Trang chủ » CHÚNG TA HỌC TIẾNG NGA (41-60 )

CHÚNG TA HỌC TIẾNG NGA (41-60 )


 file audio :

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 41

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
******
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta sẽ kết thúc việc ôn tập các cách của tiếng Nga. Chúng ta đã ghi nhớ sự biến đổi của danh từ, tính từ và đại từ trong nguyên cách-cách 1, sinh cách-cách 2, tặng cách-cách 3 và đối cách-cách 4. Chủ đề bài học hôm nay là ôn lại tạo cách-cách 5 và giới cách-cách 6. Mời các bạn trở lại với câu chuyện kể ngắn và ta sẽ tìm thấy hai cách 5 và 6 trong đó.
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА. ЕМУ 25 ЛЕТ. АНТОН – СТУДЕНТ. ОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. АНТОН БУДЕТ ИСТОРИКОМ. У АНТОНА НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. ОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ. В СУББОТУ У АНТОНА БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ. ВЕЧЕРОМ МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ. ТАМ МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ. В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ С АНТОНОМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ. Я ЛЮБЛЮ МОЕГО ДРУГА.
Đây là Anton bạn trai của tôi. Anh ấy đến từ Peterburg. Anh ấy 25 tuổi. Anton là sinh viên. Anh ấy học ở Đại học Tổng hợp Matxcơva. Anton sẽ là nhà sử học. Anton không có căn hộ ở Matxcơva. Anh ấy sống trong ký túc xá. Gần ký túc xá có rạp chiếu phim và Anton thường đến đó xem những bộ phim mới. Hôm thứ Bảy là ngày sinh nhật của Anton. Tôi đã tặng Anton một cuốn sách thú vị về các diễn viên Nga. Buổi chiều chúng tôi cùng bạn bè tới quán cà-phê. Ở đó chúng tôi uống cà-phê với bánh ga-tô và ăn kem sô-cô-la. Tháng Chín chúng tôi sẽ cùng Anton đi Peterburg bằng ô tô. Tôi yêu quí người bạn của tôi.
Nào, trước hết là tạo cách-cách 5. Cách 5 trả lời cho câu hỏi кем? чем? с кем? с чем?
АНТОН БУДЕТ ИСТОРИКОМ.
Будет кем? – Sẽ thành ai?
ИСТОРИКОМ.
Trong câu này, danh từ ИСТОРИК đứng ở cách 5.
ИСТОРИК – ИСТОРИКОМ.
Tạo cách-cách 5 còn được gọi là Công cụ cách, vì cần dùng cách 5 để chỉ các vật, dụng cụ mà chúng ta dùng cho hành động nào đó.
РУССКИЕ ЕДЯТ РИС НОЖОМ И ВИЛКОЙ, А ВЬЕТНАМЦЫ – ПАЛОЧКАМИ.
Người Nga ăn cơm bằng dao và dĩa, còn người Việt ăn (cơm) bằng đũa.
Едят чем? Ăn bằng gì?
НОЖОМ, ВИЛКОЙ, ПАЛОЧКАМИ.
Trong câu này các danh từ НОЖ, ВИЛКА và ПАЛОЧКИ đã được biến đổi sang cách 5.
НОЖ-НОЖОМ, ВИЛКА-ВИЛКОЙ, ПАЛОЧКИ-ПАЛОЧКАМИ.
Một thí dụ từ câu chuyện của chúng ta:
МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ.
Ходили с кем? Đi với ai?
С ДРУЗЬЯМИ.
Danh từ số nhiều ДРУЗЬЯ đã biến đổi sang cách 5.
ДРУЗЬЯ- С ДРУЗЬЯМИ.
Tạo cách-cách 5 thường được dùng đến khi chúng ta nói về đồ ăn.
МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ.
Пили кофе с чем? Uống cà-phê với gì?
С ТОРТОМ.
Các danh từ ТОРТ và ШОКОЛАД đứng ở cách 5.
ТОРТ- С ТОРТОМ. ШОКОЛАД- С ШОКОЛАДОМ.
Đuôi của danh từ trong cách 5, với danh từ giống đực và giống trung thì kết thúc bằng –ОМ,-ЕМ, còn danh từ giống cái cách 5 kết thúc với -ОЙ, -ЕЙ, đuôi của danh từ số nhiều là – АМИ, -ЯМИ.
Giới cách-cách 6 trả lời cho câu hỏi о ком? о чем? на ком? на чем? где? когда?Trong cách 6các danh từ luôn luôn có giới từ đi kèm (vì thế gọi là giới cách).
Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ.
Книгу о ком? Sách (nói) về ai?
О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ.
Đuôi của từ trong câu cách 6 rất dễ nhớ. Số ít bất kỳ giống nào sang cách 6 đều sẽ có tận cùng là –Е hoặc –И, còn trong số nhiều thì tận cùng là -АХ hoặc là –ЯХ.
АНТОН – ОБ АНТОНЕ,КНИГА – О КНИГЕ,АКТЕРЫ – ОБ АКТЕРАХ.
Xin các bạn lưu ý: nếu sau giới từ О có vần hữu thanh, thì giới từ sẽ thành ОБ.
О КНИГЕ, ОБ АНТОНЕ.
АНТОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. У НЕГО НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. АНТОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ.
Где учится Антон? Anton học ở đâu?
В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ.
Где живет Антон? Anton sống ở đâu?
В МОСКВЕ, В ОБЩЕЖИТИИ.
Các danh từ УНИВЕРСИТЕТ, МОСКВА, ОБЩЕЖИТИЕ và tính từ МОСКОВСКИЙ đứng ở cách 6.
УНИВЕРСИТЕТ – В УНИВЕРСИТЕТЕ,МОСКВАВ МОСКВЕ,МОСКОВСКИЙ-МОСКОВСКОМ.
Đuôi của tính từ cách 6 nếu là giống đực và giống trung sẽ có tận cùng bằng-ОМ,-ЕМ, giống cái tận cùng bằng -ОЙ, -ЕЙ, số nhiều tận cùng là –ЫХ, -ИХ.
В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ.
Поедем на чем? Chúng ta sẽ đi trên cái gì?
НА МАШИНЕ.
Cách 6 cần đến khi ta nói về phương tiện giao thông.
НА АВТОБУСЕ, НА САМОЛЕТЕ, НА ЛОДКЕ. Trên ô tô buýt, trên máy bay, trên thuyền.
Поедем когда? Khi nào chúng ta đi?
В СЕНТЯБРЕ.
Như vậy, cách 6 cũng cần đến khi nói về các tháng trong năm.
Sau đây là cách nói thời gian các tháng bằng tiếng Nga.
В ЯНВАРЕ – Trong (Vào) tháng 1 (tháng Giêng), В ФЕВРАЛЕ – Trong (Vào) tháng 2, В МАРТЕ – Trong (Vào) tháng 3, В АПРЕЛЕ – Trong (Vào) tháng 4, В МАЕ – Trong (Vào) tháng 5, В ИЮНЕ – Trong (Vào) tháng 6, В ИЮЛЕ – Trong (Vào) tháng 7, В АВГУСТЕ – Trong (Vào) tháng 8, В СЕНТЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 9, В ОКТЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 10, В НОЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 11, В ДЕКАБРЕ – Trong (Vào) tháng 12 (tháng Chạp).
Các bạn thân mến, như vậy là chúng ta đã nhắc lại tất cả các cách trong tiếng Nga. Hy vọng rằng với sự luyện tập thường xuyên các bạn sẽ nắm vững chủ đề phức tạp này. Còn những bài học trên site của Đài “Tiếng nói nước Nga” sẽ trợ giúp để các bạn từng bước nắm vững tiếng Nga.
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 42

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hy vọng rằng, các bạn đã cảm thấy thỏai mái dễ dàng trong việc sử dụng các cách của tiếng Nga. Hôm nay chúng ta sẽ nói cụ thể hơn về một bộ phận quan trọng của ngôn từ – là động từ. Các bạn đã biết rằng động từ trong tiếng Nga dùng trong ngôi và số khác nhau sẽ có phần đuôi khác nhau. Việc biến đổi động từ theo ngôi và số được gọi là phép chia động từ. Trong tiếng Nga có hai phép chia động từ. Các động từ thuộc phép chia thứ II trong dạng bất định nguyên thể có tận cùng là –ИТЬ. Thí dụ, ГОТОВИТЬ. Ta sẽ quan sát sự thay đổi của loại động từ này trong các ngôi và số.
Я ГОТОВЛЮ, ТЫ ГОТОВИШЬ,ОН ГОТОВИТ, ОНА ГОТОВИТ, МЫ ГОТОВИМ, ВЫ ГОТОВИТЕ,ОНИ ГОТОВЯТ.
Tôi chuẩn bị – nấu ăn, bạn chuẩn bị – nấu ăn, anh ấy (chị ấy) chuẩn bị – nấu ăn, chúng ta (chúng tôi) chuẩn bị – nấu ăn, các bạn (các anh, các chị…) chuẩn bị – nấu ăn, họ (chúng nó) chuẩn bị – nấu ăn.
Tất cả các động từ thuộc phép chia thứ II cũng sẽ có kết thúc như vậy. Thí dụ:
Я ЛЮБЛЮ СВОЕГО ДРУГА. ЛЮБИТЬ-ЛЮБЛЮ. Tôi yêu mến người bạn của mình. В УНИВЕРСИТЕТЕ ТЫ УЧИШЬ ИСТОРИЮ. УЧИТЬ-УЧИШЬ. Ở trường Tổng hợp bạn học Sử. ОНА КУПИТ СЕБЕ КРАСИВОЕ ПЛАТЬЕ. КУПИТЬ-КУПИТ. Cô ấy mua cho mình chiếc váy áo đẹp. МЫ НЕ КУРИМ. КУРИТЬ-КУРИМ. Chúng tôi không hút thuốc. ПОЗВОНИТЕ НАМ ЗАВТРА. ПОЗВОНИТЬ-ПОЗВОНИТЕ. Hãy gọi điện cho chúng tôi vào ngày mai. НАШИ ДРУЗЬЯ ОЧЕНЬ ХОРОШО ГОВОРЯТ ПО-АНГЛИЙСКИ. ГОВОРИТЬ-ГОВОРЯТ. Các bạn của chúng ta nói tiếng Anh rất thạo.
Nếu các động từ phép chia thứ II trong dạng bất định nguyên thể chỉ có một kiểu kết thúc bằng –ИТЬ, thì với các động từ thuộc phép chia thứ I mọi sự phức tạp hơn. Về cơ bản thuộc phép chia thứ I là các động từ mà trong dạng bất định nguyên thể thì trước đuôi –ТЬ có vần –А hoặc -Я. Thí dụ, động từ ДЕЛАТЬ.
Я ДЕЛАЮ, ТЫ ДЕЛАЕШЬ, ОН ДЕЛАЕТ, ОНА ДЕЛАЕТ, МЫ ДЕЛАЕМ, ВЫ ДЕЛАЕТЕ, ОНИ ДЕЛАЮТ. Tôi làm, bạn làm, anh ấy (chị ấy) làm, chúng ta (chúng tôi) làm, các bạn (các anh, các chị…) làm, họ (chúng nó) làm.
Hoặc động từ ГУЛЯТЬ, chia như sau:
Я ГУЛЯЮ, ТЫ ГУЛЯЕШЬ, ОН ГУЛЯЕТ, ОНА ГУЛЯЕТ, МЫ ГУЛЯЕМ, ВЫ ГУЛЯЕТЕ, ОНИ ГУЛЯЮТ Tôi dạo chơi, bạn dạo chơi, anh ấy (chị ấy) dạo chơi, chúng ta (chúng tôi) dạo chơi, các bạn (các anh, các chị) dạo chơi, họ (chúng nó) dạo chơi.
Nhưng trong phép chia thứ I có những động từ ẩn chứa “bí mật” mặc dù đuôi nguyên thể vẫn giống thế, nhưng đòi hỏi chia đặc biệt không giống qui luật trên. Và bản thân từ cơ sở khi chia cũng thay đổi. Thí dụ, động từ ПИСАТЬ.
Я ПИШУ, ТЫ ПИШЕШЬ, ОН ПИШЕТ, ОНА ПИШЕТ, МЫ ПИШЕМ, ВЫ ПИШЕТЕ, ОНИ ПИШУТ.
Các bạn thấy không, động từ nguyên thể có dạng là ПИСАТЬ.
Я НЕ ЛЮБЛЮ ПИСАТЬ ПИСЬМА. Tôi không thích viết thư.
Khi thay đổi theo ngôi và số trong động từ cơ bản âm C biến thành âm Ш.
ТЫ ПИШЕШЬ СВОЕЙ ПОДРУГЕ КАЖДЫЙ ДЕНЬ Cậu viết thư cho bạn gái hàng ngày. ПИСАТЬ-ПИШЕШЬ.
Động từ ПОМОЧЬ cũng không theo qui tắc chung.
Khi thay đổi theo ngôi và số trong động từ cơ bản âm Ч biến thành âm Г và Ж.
Я ПОМОГУ, ТЫ ПОМОЖЕШЬ, ОН ПОМОЖЕТ, ОНА ПОМОЖЕТ, МЫ ПОМОЖЕМ, ВЫ ПОМОЖЕТЕ, ОНИ ПОМОГУТ. Tôi giúp đỡ, bạn giúp đỡ, anh ấy (chị ấy) giúp đỡ, chúng ta (chúng tôi) giúp đỡ, các bạn (các anh, các chị) giúp đỡ, họ (chúng nó) giúp đỡ
Я ДОЛЖЕН ПОМОЧЬ СВОЕЙ МЛАДШЕЙ СЕСТРЕ СДЕЛАТЬ УРОКИ. Tôi cần giúp đỡ em gái út của mình làm bài.
Я ПОМОГУ ТЕБЕ ПОДГОТОВИТЬСЯ К ЭТОМУ СЛОЖНОМУ ЭКЗАМЕНУ. Tôi giúp cậu chuẩn bị cho kỳ thi phức tạp.
Còn có một số động từ đặc biệt hơn nữa: khi ở số ít thì có đuôi như phép chia thứ I, nhưng khi diễn tả họat động của số nhiều thì lại cần biến đổi như phép chia thứ II. Thí dụ, như các động từ thường hay được sử dụng ХОТЕТЬ – muốn, ДАТЬ – cho, và ЕСТЬ – ăn.
ХОТЕТЬ. Я ХОЧУ, ТЫ ХОЧЕШЬ, ОН ХОЧЕТ, ОНА ХОЧЕТ,
МЫ ХОТИМ, ВЫ ХОТИТЕ,ОНИ ХОТЯТ. Tôi muốn, bạn muốn, anh ấy (chị ấy) muốn, chúng tôi (chúng ta) muốn, các bạn (các anh các chị) muốn, họ (chúng nó) muốn
Xin các bạn lưu ý, trong số ít ở đây có sự biến âm -Т thành âm -Ч
Я ХОЧУ СТАТЬ ВРАЧОМ. ОНИ ХОТЯТКУПИТЬ МАШИНУ. Tôi muốn trở thành bác sĩ. Họ muốn mua ô tô.
Phép chia các động từ ДАТЬ và ЕСТЬ thì đơn giản là cần học thuộc, vì chúng có đuôi khác thường không theo qui tắc chung.
ДАТЬ. Я ДАМ, ТЫ ДАШЬ, ОН ДАСТ, МЫ ДАДИМ, ВЫ ДАДИТЕ, ОНИ ДАДУТ.Tôi cho, bạn cho, anh ấy (chị ấy) cho, chúng tôi (chúng ta) cho, các bạn (các anh, các chị) cho, họ (chúng nó) cho.
Я ДАМ ТЕБЕ ВКУСНУЮ КОНФЕТУ. Tớ cho cậu cái kẹo ngon.
ЕСТЬ. Я ЕМ, ТЫ ЕШЬ, ОН ЕСТ, ОНА ЕСТ, МЫ ЕДИМ, ВЫ ЕДИТЕ, ОНИ ЕДЯТ. Tôi ăn, bạn ăn, anh ấy (chị ấy) ăn, chúng tôi (chúng ta) ăn, các bạn (các anh, các chị) ăn, họ (chúng nó) ăn.
ПОСЛЕ ЗАНЯТИЙ ОНИ ЕДЯТ В СТОЛОВОЙ. Sau giờ học họ ăn ở nhà ăn.
Trong tiếng Nga còn có 11 động từ mà ở hình thức không xác định nguyên thể có đuôi như loại thuộc phép chia thứ I, nhưng lại biến đổi như động từ thuộc phép chia thứ II. Chúng ta sẽ tìm hiểu về nhóm động từ lạ thường này ở bài sau. Còn bây giờ đề nghị các bạn lập ra câu chuyện nhỏ kể về bản thân và bạn bè của mình, bằng cách sử dụng động từ thuộc phép chia I và II, trong những ngôi và số khác nhau.
Xin chúc các bạn thành công!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 43

Photo: EPA
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Trong bài học trước chúng ta đã nói về phép chia động từ tiếng Nga, tức là biến đổi động từ như thế nào về ngôi và số cho phù hợp với danh từ trong ngữ cảnh cần thiết. Xin nhắc các bạn rằng có hai phép chia động từ. Phân biệt động từ thuộc phép chia I hay II, là tùy theo cấu tạo của động từ ở hình thức nguyên thể không xác định. Nói chung những động từ ở dạng nguyên thể có kết thúc bằng –ИТЬ là thuộc phép chia II, tất cả những động từ còn lại thì thuộc phép chia I.
Nhưng cũng như ở bài trước chúng tôi đã nói, trong tiếng Nga mỗi qui tắc đều có biệt lệ. Ta đã nói về một số động từ cần chia ngoại lệ. Hôm nay, xin giới thiệu với các bạn 11 động từ thuộc phép chia II, mặc dù khi ở dạng nguyên thể bất định chúng có kết thúc bằng –АТЬ và –ЕТЬ, giống như động từ thuộc phép chia I. Mời các bạn nghe chị Tania điểm qua các động từ ngoại lệ này:
ГНАТЬ – đuổi, ДЫШАТЬ – thở, ДЕРЖАТЬ – giữ, СЛЫШАТЬ – nghe, ЗАВИСЕТЬ – phụ thuộc, ВИДЕТЬ – nhìn thấy, ОБИДЕТЬ – giận, СМОТРЕТЬ – nhìn, xem, ВЕРТЕТЬ – xoay, НЕНАВИДЕТЬ – căm ghét, ТЕРПЕТЬ – chịu đựng.
Có mẹo thuộc lòng những động từ đặc biệt này bằng mấy câu văn vần như sau:
Как начнешь меня ты гнать,
Перестану я дышать.
Перестанут уши слышать.
Ну а руки – все держать.
На меня начнешь смотреть,
Будешь ты меня вертеть –
Буду все равно терпеть.
Буду от тебя зависеть,
Раз ты смог меня обидеть,
Буду я тебя не видеть,
А открыто ненавидеть!
Để dễ thuộc, chúng tôi tạm dịch sang tiếng Việt như sau:
Khi cậu đuổi tớ
Tai chẳng nghe
Tay giữ thật chặt
Mắt cứ xem đi
Xoay như chong chóng
Đành chịu đựng thôi
Phụ thuộc vào cậu
Nhưng tớ giận rồi
Không nhìn thấy cậu
Tớ ghét cho coi!
Để dễ nhớ những động từ và thuộc đoạn văn vần này các bạn hãy gắng hình dung diễn biến trò chơi trong đó dưới dạng một bức tranh nhỏ. Động từ ngoại lệ trong đọan văn vần này đều ở nguyên thể. Bây giờ ta sẽ xem chia các động từ không theo qui tắc chung này ra sao.
ВЕТЕР ГОНИТ ОСЕННИЕ ЛИСТЬЯ. ГНАТЬ-ГОНИТ.
Gió đuổi những chiếc lá thu.
КАК ТЫ СВОБОДНО ДЫШИШЬ СВЕЖИМ ОСЕННИМ ВОЗДУХОМ! ДЫШАТЬ-ДЫШИШЬ.
Bạn hít thở không khí trong lành của mùa thu dễ chịu làm sao!
Я СЛЫШУ КРИК УЛЕТАЮЩИХ ЖУРАВЛЕЙ. СЛЫШАТЬ-СЛЫШУ.
Tôi nghe thấy tiếng kêu của những con sếu đang bay.
МЫ ДЕРЖИМ В РУКАХ БУКЕТЫ ОСЕННИХ ЦВЕТОВ. ДЕРЖАТЬ-ДЕРЖИМ.
Chúng tôi giữ trong tay bó hoa mùa thu.
ВЫ СМОТРИТЕ ВДАЛЬ, НА ПУСТЫЕ ПОЛЯ И ЛЕСА. СМОТРЕТЬ-СМОТРИТЕ.
Các bạn hãy nhìn xa ra cánh đồng trống trải và rừng cây.
ДЕТИ ВЕРТЯТ НАД ГОЛОВОЙ ВОЗДУШНЫХ ЗМЕЕВ. ВЕРТЕТЬ-ВЕРТЯТ.
Bọn trẻ xoay những chiếc diều giấy trên đầu.
НАМ ХОЛОДНО, НО МЫ ТЕРПИМ, МЫ НЕ ХОТИМ УХОДИТЬ ИЗ ЛЕСА. ТЕРПЕТЬ-ТЕРПИМ.
Chúng tôi bị lạnh, nhưng chúng tôi chịu đựng, chúng tôi không muốn rời khỏi rừng.
НАШЕ РЕШЕНИЕ ЗАВИСИТ ОТ ПОГОДЫ. ЗАВИСЕТЬ-ЗАВИСИТ.
Quyết định của chúng tôi phụ thuộc vào thời tiết.
НЕ БОЙСЯ, ТЫ НЕ ОБИДИШЬ МЕНЯ. ОБИДЕТЬ-ОБИДИШЬ.
Đừng lo, cậu không làm tớ giận đâu.
ДЕТИ ВИДЯТ ПОД ДЕРЕВОМ СЕМЕЙКУ ГРИБОВ. ВИДЕТЬ-ВИДЯТ.
Những đứa trẻ nhìn thấy cụm nấm dưới gốc cây.
ОН ЛЮБИТ ПРИРОДУ И НЕНАВИДИТ ТЕХ, КТО ЕЕ ГУБИТ. НЕНАВИДЕТЬ-НЕНАВИДИТ.
Anh ấy yêu thiên nhiên và ghét những ai phá hoại thiên nhiên.
Đề nghị các bạn tranh thủ tập luyện thêm vào những lúc rảnh rỗi. Tin rằng các bạn sẽ thành công.
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 44

Photo: RIA Novosti

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta sẽ nói về những mệnh đề phức hợp trong tiếng Nga. Thông thường những mệnh đề này có hai loại. Loại thứ nhất là khi mà tất cả các bộ phận của một câu phức đều ngang bằng nhau, có thể tách ra để trở thành những câu đơn giản và độc lập.Thí dụ:
Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН, И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Tôi đã trả thi thành công, và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.
Trong mệnh đề phức hợp này gồm hai câu đơn giản thể hiện những hành động nối tiếp nhau. Mệnh đề phức hợp như vậy có thể chia được thành hai câu đơn giản riêng biệt.
Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã trả thi thành công.
И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.
Hoặc là phương án mệnh đề phức hợp như sau:
Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ, НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Tôi thích món nem Việt Nam, nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.
Trong câu phức hợp này, ý nghĩa của một câu đơn giản trái ngược với ý nghĩa của câu khác. Nhưng cũng có thể dễ dàng tách ra thành hai câu riêng độc lập.
Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ. Tôi thích món nem Việt Nam.
НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.
 Loại thứ hai của câu phức hợp bằng tiếng Nga là khi một phần phụ thuộc vào phần khác, và không thể tách rời thành những mệnh đề đơn lẻ. Thí dụ:
КОГДА АНТОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА, ОН ВСТРЕТИЛСЯ СО ВСЕМИ СВОИМИ ДРУЗЬЯМИ.
Khi Anton đến từ Peterburg, anh ấy đã gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình.
Ở đây một phần mệnh đề chỉ hành động đã được thực hiện xong, còn phần kia chỉ mốc thời gian ngữ cảnh.
Когда Антон встретился со всеми своими друзьями? Когда он приехал из Петербурга.
Khi nào Anton gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình? Khi anh ấy đến từ Peterburg.
Phần mệnh đề cho thấy hành động của đối tượng được gọi là chính, còn phần mệnh đề thể hiện thời gian thực hiện hành động này được xem là mệnh đề phụ.
Xin thêm một thí dụ mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ thời gian.
КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД, ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.
Khi Anna chuẩn bị bữa ăn trưa, chị ấy luôn nghe radio.
Ở đây, phần chính là ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.
Còn phần phụ trong mệnh đề phức hợp là КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД
Phần phụ chỉ thời gian bắt đầu với từ КОГДА và không thể dùng tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Có thí dụ ngắn gọn về mệnh đề với phần phụ chỉ thời gian, là ngạn ngữ mà bậc phụ huynh người Nga thường nói với các con trong bữa ăn.
КОГДА Я ЕМ, Я ГЛУХ И НЕМ. Khi tôi ăn, tôi điếc và câm.
Chắc các bạn cũng thấy ở đây cả qui tắc văn minh – khi đang ăn thì không nói chuyện, cũng như lối chơi chữ để có vần điệu. Có lẽ các bạn dễ dàng xác định được đâu là phần chính, còn đâu là phần phụ trong mệnh đề phức hợp này.
Thêm một loại mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ khoảng thời gian.
АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ, ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.
Anton không đến lớp, vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.
Ở đây, phần chính là АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ.
Còn phần phụ là ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.
Phần phụ giải thích nguyên nhân thực hiện hành động trong phần chính, vì thế dạng mệnh đề này còn được gọi là mệnh đề quan hệ nhân quả.
Почему Антон не пришел на лекцию? Потому что он плохо себя чувствовал.
Tại sao Anton không đến lớp? Vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.
Thêm thí dụ khác về câu phức hợp với phần phụ chỉ nguyên nhân hành động.
ЗУНГ КУПИЛ СЕБЕ ТЕПЛУЮ КУРТКУ И ШАПКУ, ПОТОМУ ЧТО ЗИМОЙ В МОСКВЕ ОЧЕНЬ ХОЛОДНО.
Dũng đã sắm cho mình chiếc áo bông ấm và mũ, vì mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.
Почему Зунг купил себе теплую куртку и шапку? Потому что зимой в Москве очень холодно.
Tại sao Dũng đã sắm cho mình áo bông ấm và mũ? Vì rằng mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.
Phần phụ trong mệnh đề phức hợp này bắt đầu với từ ПОТОМУ ЧТО và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Vẫn còn một dạng mệnh đề phức hợp nữa – đó là với phần phụ chỉ điều kiện.
ЕСЛИ ЗАВТРА БУДЕТ ХОРОШАЯ ПОГОДА, МЫ ПОЕДЕМ НА РЕКУ КУПАТЬСЯ. Nếu ngày mai thời tiết tốt, chúng ta sẽ ra sông tắm.
Phần mệnh đề phụ chỉ điều kiện, có thể diễn ra hành động trong phần chính.
При каком условии мы поедем на реку купаться? Если завтра будет хорошая погода.
Với điều kiện nào chúng ta sẽ ra sông tắm? Nếu ngày mai thời tiết tốt.
Thêm một thí dụ nữa về mệnh đề phức hợp có phần phụ điều kiện:
ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ, ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ. Nếu cậu không học kỹ, cậu sẽ không trả thi tốt được.
Ở đây phần mệnh đề chính là ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ.
Còn phần phụ chỉ điều kiện là ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ.
Phần mệnh đề phụ chứa điều kiện bắt đầu với từ ЕСЛИ và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Các bạn thân mến, chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga sẽ được tiếp nối trong bài sau. Các bạn hãy tập luyện bằng cách đặt ra các câu phức hợp có phần phụ chỉ thời gian, nguyên nhân và điều kiện.
Bài tham khảo trên trang web của Đài “Tiếng nói nước Nga” sẽ giúp các bạn trong việc luyện tập này. Xin chúc thành công!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 45

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng tôi tiếp tục chủ đề “mệnh đề phức hợp” trong tiếng Nga. Trong bài trước ta làm quen với những mệnh đề phức hợp bình đẳng và mệnh đề phức hợp phụ thuộc. Các bạn đã biết rằng trong dạng mệnh đề phức hợp nhưng bình đẳng thì các phần độc lập với nhau và ta có thể tách thành những câu đơn giản, còn trong câu phức hợp phụ thuộc thì một phần đóng vai trò chính, phần kia là phụ, do vậy mệnh đề dạng này không tách ra thành những câu đơn riêng biệt được.
Các bạn cũng biết về ba loại câu phụ. Bây giờ ta hãy cùng ôn lại một chút.
Câu phụ thời gian biểu thị khoảng thời gian của hành động trong phần chính của mệnh đề phức hợp.
КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА, Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ. Khi mùa đông đến, tôi sẽ đi trượt tuyết.
Phần chính của mệnh đề này – Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ, còn phần phụ chỉ rõ khung thời gian – КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА. Nó trả lời cho câu hỏi: когда? Và gắn kết với phần chính của mệnh đề bằng liên từ КОГДА.
Loại tiếp theo của câu phụ mà chúng ta cũng đã nói tới, là câu phụ nguyên nhân, cho thấy nguyên nhân của hành động hoặc tình trạng được thể hiện trong phần chính của mệnh đề phức hợp.
Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ. Tôi tặng Nina chiếc đĩa CD mới, vì cô ấy rất yêu âm nhạc.
Ở đây câu chính là – Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, còn câu phụ là – ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ.
Câu phụ nguyên nhân trả lời cho câu hỏi почему? Và gắn kết với phần chính bằng liên từ ПОТОМУ ЧТО.
Ở đây xin lưu ý các bạn về cách phát âm liên từ này. Ta viết ПОТОМУ ЧТО, nhưng phát âm là ПОТОМУ ШТО.
Dạng câu phụ cuối cùng mà chúng ta đã xem xét trong bài trước, là câu phụ chỉ điều kiện, biểu thị điều kiện của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.
ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ, Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ. Nếu tôi nhận được visa, (thì) sau một tháng nữa tôi sẽ bay sang Pháp.
Ở đây câu chính là – Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ, còn câu phụ là – ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ. Nó trả lời cho câu hỏi при каком условии? Và gắn kết bằng liên từ ЕСЛИ.
Bây giờ chúng tôi giới thiệu một dạng khác của mệnh đề phụ thuộc. Đó là câu mục đích, biểu thị mục đích của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.
Я ПОМОГ СВОЕМУ ДРУГУ АНДРЕЮ, ЧТОБЫ ОН ХОРОШО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã giúp đỡ bạn Andrei của mình để anh ấy trả thi tốt.
Câu chính là – Я ПОМОГ СВОЕМУ ДРУГУ АНДРЕЮ. Câu phụ là – ЧТОБЫ ОН ХОРОШО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Nó trả lời cho câu hỏi зачем? с какой целью? Và gắn kết bằng liên từ ЧТОБЫ. Ở đây cũng cần lưu ý về cách phát âm – ta viết ЧТОБЫ, nhưng phát âm là ШТОБЫ.
Xin thêm thí dụ nữa về câu phụ chỉ mục đích.
МИНЬ ПОШЕЛ В АПТЕКУ, ЧТОБЫ КУПИТЬ ЛЕКАРСТВО ДЛЯ МАТЕРИ. Minh đến hiệu thuốc để mua thuốc cho mẹ.
Còn bây giờ mời các bạn nghe đọan hội thoại, trong đó sử dụng tất cả các dạng câu phụ mà chúng ta đã nhắc tới.
ПРИВЕТ, АНТОН! – ПРИВЕТ, ЗУНГ! – КАК ДЕЛА? – НОРМАЛЬНО. – КОГДА МЫ ВИДЕЛИСЬ ТРИ МЕСЯЦА НАЗАД, ТЫ ХОТЕЛ УЧИТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК. УЖЕ НАЧАЛ? – ДА. Я ХОЧУ ЕГО ЗНАТЬ, ПОТОМУ ЧТО ЗАНИМАЮСЬ ВЬЕТНАМСКОЙ БОРЬБОЙ. – ЧТОБЫ ХОРОШО ЗНАТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК, НАДО МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ. Я МОГУ ТЕБЕ ПОМОЧЬ. – СПАСИБО. ЕСЛИ ДЕЛА ПОЙДУТ ХОРОШО, ЛЕТОМ Я ПОЛЕЧУ ВО ВЬЕТНАМ.
Anton à, chào cậu! – Chào Dũng! – Công việc thế nào? – Bình thường. – Khi chúng mình gặp nhau ba tháng trước, cậu muốn học tiếng Việt. Bắt đầu rồi hả? – Ừ. Tớ muốn biết tiếng Việt, vì tớ đang tập võ Việt Nam. – Để (biết tốt) thạo tiếng Việt, cần học nhiều. Tớ sẽ giúp cậu. – Cảm ơn. Nếu mọi chuyện ổn thỏa, mùa hè tớ sẽ bay sang Việt Nam.
Các bạn hãy tìm trong đọan hội thoại này những câu phụ chỉ thời gian, nguyên nhân, điều kiện và mục đích. Ngoài ra các bạn hãy tự nghĩ những đoạn hội thoại hay chuyện kể có sử dụng những mệnh đề như vậy.
Vẫn như mọi khi, tham khảo trang web của Đài “Tiếng nói nước Nga” sẽ giúp bạn trong việc học tiếng Nga.
Xin chúc các bạn có những thành công mới trên hành trình khám phá và nắm vững ngôn ngữ của đất nước bạch dương!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 46
Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )


Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Đã sang tháng 12 – tháng cuối cùng của năm và cũng là tháng đầu tiên của mùa đông Nga. Thông thường ở Nga tháng 12 thời tiết rất lạnh và khắp nơi phủ tuyết trắng xóa. Những tòa nhà bắt đầu được trang trí bằng dây kim tuyến lóng lánh, những tràng bóng bay kết hình, đèn lồng chăng ngang các phố còn bên lối ra vào và trên giá các cửa hàng bày cây thông xanh tô điểm lộng lẫy. Cảm thấy rất rõ đang gần đến một ngày hội yêu thích nhất của người Nga là ngày lễ Năm mới. Tania, sắp tới là năm gì vậy?
ДВЕ ТЫСЯЧИ ТРИНАДЦАТЫЙ. Năm 2013.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về cách biểu đạt ngày tháng trong tiếng Nga. Trước ngưỡng cửa một năm mới, người ta luôn nhớ lại những sự kiện vui mừng và buồn đau của những năm đã qua. Thiên niên kỷ mới đã bắt đầu, một phần cuộc đời của chúng ta đã trôi qua trong thiên niên kỷ cũ, khi mà tất cả các năm đều bắt đầu với từ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ – một nghìn chín trăm…
ВЕЛИКАЯ ОТЕЧЕСТВЕННАЯ ВОЙНА НАЧАЛАСЬ В ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЕРВОМ ГОДУ, А ЗАКОНЧИЛАСЬ ДЕВЯТОГО МАЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЯТОГО ГОДА. Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bắt đầu vào năm 1941, kết thúc vào (ngày) 9 tháng 5 năm 1945.
Các năm được biểu đạt bằng tổ hợp từ số lượng và từ cuối cùng chỉ số thứ tự, trong các cách chỉ biến đổi vĩ tố của từ cuối ДЕВЯТОМ, ПЯТОГО, những phần còn lại của tổ hợp từ vẫn giữ nguyên không đổi: ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК.
12 АПРЕЛЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ШЕСТЬДЕСЯТ ПЕРВОГО ГОДА ЧЕЛОВЕК ВПЕРВЫЕ ПОЛЕТЕЛ В КОСМОС. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ОДИННАДЦАТОМ ГОДУ МИР ОТМЕТИЛ ПОЛВЕКА НАЧАЛА КОСМИЧЕСКОЙ ЭРЫ.
(Ngày) 12 tháng 4 năm 1961 con người đầu tiên đã bay vào vũ trụ. Trong năm 2011 thế giới đã kỷ niệm nửa thế kỷ bắt đầu kỷ nguyên vũ trụ
Tania, nhà thơ yêu thích nhất của chị là ai?
АЛЕКСАНДР СЕРГЕЕВИЧ ПУШКИН.
Ông sinh ra khi nào?
ПУШКИН РОДИЛСЯ ШЕСТОГО ИЮНЯ ТЫСЯЧА СЕМЬСОТ ДЕВЯНОСТО ДЕВЯТОГО ГОДА.
Pushkin sinh (ngày) 6 tháng 6 năm 1799.
Như vậy, tất cả các năm của thiên niên kỷ vừa qua bắt đầu với từ ТЫСЯЧА, còn năm cuối cùng của thiên niên kỷ gọi là ДВУХТЫСЯЧНЫЙ. Chị nhớ không, Tania, tưởng chừng như cách đây chưa lâu chúng ta đón năm này, và quan niệm của mọi người không đồng nhất với nhau: một số người coi năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, còn những người khác gọi nó là năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba. Và thế là đã trôi qua 12 năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới. Nhân đây cũng xin nói thêm, chỉ trong 12 năm vừa qua đã có những kết hợp thú vị của các con số chỉ ngày tháng năm như 01.01.01 – ПЕРВОЕ ЯНВАРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ПЕРВОГО ГОДА, 07.07.07 – СЕДЬМОЕ ИЮЛЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ СЕДЬМОГО ГОДА hoặc là 12.12.12 – ДВЕНАДЦАТОЕ ДЕКАБРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ДВЕНАДЦАТОГО ГОДА.
Xin các bạn lưu ý, tất cả các chữ số là số thứ tự đều ở giống trung.
ПЕРВОЕ, ВТОРОЕ, ТРЕТЬЕ, ЧЕТВЕРТОЕ, ПЯТОЕ, ШЕСТОЕ, СЕДЬМОЕ, ВОСЬМОЕ, ДЕВЯТОЕ, ДЕСЯТОЕ, ДВАДЦАТОЕ, ДВАДЦАТЬ ПЯТОЕ, ТРИДЦАТОЕ, ТРИДЦАТЬ ПЕРВОЕ. 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 20, 25, 30, 31.
Và chúng biến đổi như sau:
ПЕРВОГО СЕНТЯБРЯ НАЧИНАЕТСЯ УЧЕБНЫЙ ГОД. (Ngày) 1 tháng 9 bắt đầu năm học mới.
Nếu nói về ngày tháng diễn ra sự kiện nào đó, vĩ tố của từ cuối cùng bao giờ cũng là –ОГО.
ПЕРВОГО СЕНТЯБРЯ, ПЯТОГОДЕКАБРЯ.
Nếu nói về việc, đến ngày tháng nào sẽ thực hiện hành động nào đó, thì vĩ tố của từ cuối sẽ là –ОМУ.
Я ДОЛЖЕН НАПИСАТЬ ДИПЛОМНУЮ РАБОТУ К ПЯТОМУ МАЯ. Đến (ngày) 5 tháng 5 tôi cần viết xong luận văn
К ПЯТОМУ МАЯ, К СЕМНАДЦАТОМУСЕНТЯБРЯ. Đến (ngày) 5 tháng 5, đến (ngày) 17 tháng 9.
Các bạn hãy thử viết tiểu sử tóm tắt của mình với những từ chỉ ngày tháng năm. Thí dụ:
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН РОДИЛСЯ В МОСКВЕ 7 АВГУСТА ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ДЕВЯНОСТОГО ГОДА. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ВОСЬМОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИЛ ШКОЛУ И ПОШЕЛ СЛУЖИТЬ В АРМИЮ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ДЕВЯТОМ ГОДУ ОН ВЕРНУЛСЯ ИЗ АРМИИ И ПОСТУПИЛ В МОСКОВСКИЙ ГОРНЫЙ ИНСТИТУТ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ЧЕТЫРНАДЦАТОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИТ ИНСТИТУТ. ОН ХОЧЕТ СТАТЬ ГЕОЛОГОМ. Đây là anh bạn Anton của tôi. Anh ấy sinh tại Matxcơva vào ngày 7 tháng 8 năm 1990. Năm 2008, Anton tốt nghiệp phổ thông trung học và nhập ngũ phục vụ trong quân đội. Năm 2009, anh từ quân đội trở về và nhập (học) vào Đại học Mỏ Matxcơva. Năm 2014 Anton sẽ tốt nghiệp đại học. Anh ấy muốn trở thành nhà địa chất.
Xin chúc các bạn thành công.
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 47

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Bài học hôm nay của chúng tôi phát sóng vào khỏang thời gian tuyệt vời và kỳ diệu nhất trong năm: Khoảng thời gian của Năm mới và lễ Giáng sinh. Đó là khỏang thời gian khi tất cả hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn và mong đợi điều kỳ diệu sẽ đến. Người Nga có câu rằng, nếu tin vào điều kỳ diệu, thì nhất định điều kỳ diệu sẽ đến. Bài học hôm nay của chúng ta sẽ xoay quanh đề tài này.
РОМАН УЧИЛСЯ НА ЧЕТВЕРТОМ КУРСЕ ХУДОЖЕСТВЕННОГО ИНСТИТУТА. ОН МЕЧТАЛ СТАТЬ ИЗВЕСТНЫМ ХУДОЖНИКОМ. У НЕГО БЫЛО МНОГО ДРУЗЕЙ И ПОДРУГ, НО ЛЮБИМОЙ ДЕВУШКИ НЕ БЫЛО. Roman học năm thứ tư trường Đại học Nghệ thuật. Anh ấy từng mơ ước trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Anh ấy có nhiều bạn bè cả bạn trai và bạn gái, nhưng chưa có người yêu.
ОДНАЖДЫ РОМАНУ ПРИСНИЛСЯ УДИВИТЕЛЬНЫЙ СОН. ОН УВИДЕЛ ПРЕКРАСНОЕ ЛИЦО ДЕВУШКИ. У НЕЕ БЫЛИ БОЛЬШИЕ ЗЕЛЕНЫЕ ГЛАЗА, МИЛАЯ УЛЫБКА И ДЛИННЫЕ ЗОЛОТИСТЫЕ ВОЛОСЫ. УТРОМ РОМАН ВЗЯЛ БОЛЬШОЙ ЛИСТ БУМАГИ И НАРИСОВАЛ ЭТО ЛИЦО. Một lần (một hôm) Roman có một giấc mơ đáng ngạc nhiên (lạ thường). Anh nhìn thấy khuôn mặt tuyệt đẹp của một cô gái. Cô ấy có đôi mắt to xanh biếc, nụ cười khả ái và mái tóc dài óng vàng. Buổi sáng Roman lấy một tờ giấy lớn và vẽ lại khuôn mặt này.
ПРОШЕЛ МЕСЯЦ, НО РОМАН НЕ МОГ ЗАБЫТЬ СВОЙ СОН. ЕМУ БЫЛО ГРУСТНО. МОРОЗНЫМ ЗИМНИМ ВЕЧЕРОМ РОМАН ПОШЕЛ В ПАРК, ЧТОБЫ ПОКАТАТЬСЯ НА КОНЬКАХ. НА КАТКЕ БЫЛО МНОГО МОЛОДЕЖИ. ВДРУГ РОМАН УВИДЕЛ ДЕВУШКУ, ОЧЕНЬ ПОХОЖУЮ НА ТУ, КОТОРУЮ ОН УВИДЕЛ ВО СНЕ. РОМАН ПОСПЕШИЛ ЗА НЕЙ, НО ДЕВУШКА ИСЧЕЗЛА. ВЕСЬ ВЕЧЕР РОМАН ИСКАЛ ЕЕ, НО НАЙТИ НЕ СМОГ. Một tháng trôi qua, nhưng Roman không thể quên giấc mơ của mình. Anh thấy buồn. Buổi chiều mùa đông băng giá Roman ra công viên để trượt băng. Trên sân băng rất đông bạn trẻ. Bỗng nhiên Roman nhìn thấy một cô gái, rất giống với người mà anh đã gặp trong mơ. Roman vội vàng đi theo cô ấy, nhưng cô gái đã biến mất. Cả buổi chiều Roman tìm cô, nhưng không sao thấy được.
КРУПНАЯ КОМПАНИЯ ПРОВОДИЛА КОНКУРС НА ЛУЧШУЮ РЕКЛАМУ МОБИЛЬНЫХ ТЕЛЕФОНОВ. РОМАН ПРИНЯЛ УЧАСТИЕ В КОНКУРСЕ. ОН НАРИСОВАЛ ПОРТРЕТ ДЕВУШКИ ИЗ СНА И МОБИЛЬНЫЙ ТЕЛЕФОН. ВНИЗУ ОН НАПИСАЛ: «ПОЗВОНИ МНЕ!» Một công ty lớn tiến hành cuộc thi tuyển quảng cáo xuất sắc nhất cho điện thoại di động. Roman đã tham gia thi. Anh vẽ chân dung cô gái trong giấc mơ và chiếc điện thoại di động. Phía dưới (bức vẽ) anh ghi (dòng chữ): “Hãy gọi điện cho tôi!”.
РОМАН ВЫИГРАЛ КОНКУРС. ЕГО РЕКЛАМА БЫЛА РАЗВЕШАНА ВО МНОГИХ МЕСТАХ ГОРОДА. ПОВЕСИЛИ ЕЕ И ОКОЛО КАТКА, НА КОТОРОМ РОМАН УВИДЕЛ ТАИНСТВЕННУЮ НЕЗНАКОМКУ. ОДНАЖДЫ НОЧЬЮ РОМАН ПРИШЕЛ К ЭТОЙ РЕКЛАМЕ, НАПИСАЛ НА НЕЙ БОЛЬШИМИ ЦИФРАМИ СВОЙ МОБИЛЬНЫЙ ТЕЛЕФОН И СТАЛ ЖДАТЬ ЧУДА. Roman đã (giành phần) thắng trong cuộc thi. Quảng cáo của anh được treo ở nhiều nơi của thành phố. (Người ta) treo (tấm quảng cáo) cả ở gần sân băng, nơi Roman nhìn thấy cô gái bí ẩn không quen biết. Một lần vào ban đêm Roman đến chỗ bức quảng cáo này, ghi trên đó số điện thoại (di động) của mình bằng những chữ số lớn, và bắt đầu chờ đợi điều kỳ diệu.
НАКАНУНЕ РОЖДЕСТВА РОМАНУ ПОЗВОНИЛИ. НОМЕР БЫЛ ЕМУ НЕИЗВЕСТЕН. ДЕВИЧИЙ ГОЛОС ПРОИЗНЕС: «ЗДРАВСТВУЙТЕ! Я УВИДЕЛА ВАШ ТЕЛЕФОН НА РЕКЛАМЕ. ВЫ ПРОСИЛИ МЕНЯ ПОЗВОНИТЬ. МЕНЯ ЗОВУТ ЮЛЯ. ЧТО ВЫ ХОТЕЛИ МНЕ СКАЗАТЬ?» Trước lễ Giáng sinh, có người gọi điện cho Roman. Số lạ. Giọng thiếu nữ vang lên: “Xin chào! Tôi nhìn thấy số điện thoại của bạn trên tấm quảng cáo. Bạn đề nghị tôi gọi điện. Tên tôi là Yulya. Bạn muốn nói gì với tôi vậy?”
РОМАН ПОМОЛЧАЛ СЕКУНДУ. «ВЫ ВОШЛИ В МОЮ ЖИЗНЬ ВО СНЕ. МНЕ БЫ ОЧЕНЬ ХОТЕЛОСЬ, ЧТОБЫ ЭТО БЫЛО НАЯВУ», СКАЗАЛ ОН ЮЛЕ. РОЖДЕСТВО ОНИ ВСТРЕТИЛИ ВМЕСТЕ. Roman im lặng một giây. Rồi anh nói với Yulya: “Bạn đã bước vào cuộc đời tôi trong mơ. Tôi rất mong điều đó trở thành hiện thực”. Họ đã đón Giáng sinh bên nhau.
Các bạn thân mến!Trong câu chuyện nhỏ này có nhiều thí dụ về các chủ đề ngữ pháp mới. Nhưng chúng ta sẽ xem xét cụ thể trong những bài học kỳ tới. Còn hôm nay, Tanya và Đan Thi xin tặng các bạn câu chuyện này và chúng tôi muốn chúc mừng nhân dịp Năm mới. Xin chúc cho những điều kỳ diệu tốt lành luôn được dành chỗ trong cuộc sống của mỗi người. Để sang Năm mới bạn, gia đình và người thân của bạn luôn được khỏe mạnh và trong ngôi nhà bạn luôn tràn đầy Tình yêu, Niềm vui và Hạnh phúc. Để những chương trình của đài phát thanh”Tiếng nói nước Nga” luôn là người bạn tốt và là phụ tá hữu ích của thính giả, còn những bài học tiếng Nga của chúng tôi sẽ giúp bạn làm quen với nước Nga và tiến vào thế giới văn học Nga. Xin hẹn gặp lại trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”!
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 48


Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga. Chúng ta sẽ học để sử dụng câu phức có mệnh đề phụ thuộc bắt đầu với từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Trước hết xin mời các bạn theo dõi thí dụ:
ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi. Anh ấy sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi. Cô ấy sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê. Quán ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng. Những chiếc bánh khiến chúng tôi rất thích (Chúng tôi rất thích bánh).
Từ những câu đơn giản này có thể tạo thành câu phức hợp. Các bạn hãy xem tạo câu mới thế nào.
ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. Sẽ thành ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ.
Câu thứ hai gộp vào với câu thứ nhất, còn đại từ ОН được thay bằng liên từ КОТОРЫЙ. ОН – là đại từ giống đực, vì thế cả từ КОТОРЫЙ cũng sẽ là giống đực với kết thúc bằng –ЫЙ.
Câu phụ nghĩa là dấu hiệu xác định của người hoặc đối tượng trong câu thứ nhất.
ЭТО КАКОЙ МОЙ ДРУГ? – КОТОРЫЙЖИВЕТ В МОСКВЕ.
Đó là người bạn nào của tôi? – Người bạn sống ở Matxcơva.
Chúng ta tiếp tục cấu tạo câu phức mới từ câu đơn:
Từ hai câu đơn: А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Sẽ thành một câu phức:  А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ.
Đại từ ОНА được thay bằng liên từ КОТОРАЯ. ОНА – là đại từ giống cái, vì thế cả từ КОТОРАЯ cũng ở dạng giống cái với vĩ tố –АЯ.
А ЭТО КАКАЯ МОЯ ПОДРУГА? – КОТОРАЯЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Còn đây là cô bạn nào của tôi? – Cô bạn sống ở ngoại ô Matxcơva.
Hai câu đơn ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА – Sẽ tạo thành câu phức ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.
Đại từ ОНО được thay thế bằng liên từ КОТОРОЕ. ОНО là đại từ giống trung, vì thế cả từ КОТОРОЕ cũng sẽ ở giống trung với đuôi là –ОЕ.
В КАКОЕ КАФЕ МЫ ХОДИМ ПО СУББОТАМ? – КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.
Vào thứ Bẩy chúng tôi đến quán cà phê nào? – Quán ở gần nhà tôi.
Tiếp theo, với các câu đơn giản: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ – Chúng ta sẽ có câu phức như sau: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đại từ ОНИ được thay thế bằng liên từ КОТОРЫЕ. ОНИ là đại từ số nhiều dùng cho cả ba giống, vì vậy tương ứng, từ thay thế cũng ở số nhiều và có kết thúc là –ЫЕ.
КАКИЕ ПИРОЖНЫЕ МЫ ТАМ ЕДИМ? – КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Tại đó chúng tôi ăn bánh gì? – Bánh nướng mà chúng tôi rất thích.
Mời các bạn xem thêm thí dụ khác.
ВЕЧЕРОМ МНЕ ПОЗВОНИЛИ СТАРЫЕ ДРУЗЬЯ, КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.
КАКИЕ ДРУЗЬЯ? – КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.
Buổi chiều tôi nhận điện thoại của các bạn cũ, những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.
Những người bạn nào? – Những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.
ПОЗНАКОМЬТЕСЬ! ЭТО МОЯ УЧИТЕЛЬНИЦА, КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.
КАКАЯ УЧИТЕЛЬНИЦА? – КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.
Xin hãy làm quen nhé! Đây là cô giáo của tôi, người đã khuyên tôi trở thành nhà Tóan học.
Cô giáo nào? – Người đã khuyên tôi trở thành nhà Tóan học.
Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ ЭТО ЗДАНИЕ, КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.
КАКОЕ ЗДАНИЕ? – КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.
Tôi rất yêu tòa nhà này, đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.
Tòa nhà nào? – Tòa nhà đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.
Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 49

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga có sử dụng liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Trong bài trước những từ này đứng ở nguyên cách – cách 1. Chúng ta cùng xem lại một chút nhé.
ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi, người sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi, người sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê, ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng, loại bánh mà chúng tôi rất thích.
Trong bài hôm nay chúng ta sẽ xem xét những dạng nhiệm vụ phức tạp hơn. Liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ sẽ ở sinh cách – cách 2.
Mời các bạn theo dõi thí dụ:
ЭТО МОЙ БРАТ. У МОЕГО БРАТА БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. – ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОРОГО БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. Đây là anh trai tôi. Anh trai tôi có một gia đình lớn. – Đây là anh trai tôi, người có một gia đình lớn.
Liên từ КОТОРЫЙ đứng trong mệnh đề ở cách 2 và có đuôi là –ОГО.
Biến đổi: КОТОРЫЙ – КОТОРОГО.
Xin nhắc rằng vĩ tố –ОГО trong tính từ và đại từ của tiếng Nga khi phát âm sẽ là –ОВО.
Xin lưu ý các bạn lần nữa về cấu trúc sở hữu trong tiếng Nga. Khác với phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới, trong tiếng Nga mà nói Я ИМЕЮ hoặc Я НЕ ИМЕЮ là không chuẩn. Biểu đạt sở hữu bằng tiếng Nga cần nói là У МЕНЯ ЕСТЬ hoặc У МЕНЯ НЕТ. Trong trường hợp này danh từ, đại từ, liên từ biểu thị một người hay một vật sở hữu cái gì đó, luôn luôn đứng ở cách 2. Ta trở lại với thí dụ trên:
У МОЕГО БРАТА – БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОРОГО БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ.
Cũng sẽ có vĩ tố như vậy đối với liên từ giống trung КОТОРОЕ.
ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА. ИЗ ОКНА ВИДНО МОРЕ. – ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА, ИЗ КОТОРОГО ВИДНО МОРЕ. Cô gái ngồi bên cửa sổ. Từ cửa sổ biển thấy rõ. – Cô gái ngồi bên cửa sổ, mà từ đó biển thấy rõ.
Còn bây giờ mời các bạn nghe thí dụ với liên từ giống cái КОТОРАЯ.
У МОЕГО ДРУГА ЕСТЬ КНИГА. ЭТОЙКНИГИ НЕТ В БИБЛИОТЕКЕ. – У МОЕГО ДРУГА ЕСТЬ КНИГА, КОТОРОЙ НЕТ В БИБЛИОТЕКЕ. Bạn tôi có cuốn sách. Cuốn sách này trong thư viện không có. – Bạn tôi có cuốn sách, mà trong thư viện không có.
Ở đây liên từ КОТОРАЯ đứng ở cách 2 và có đuôi –ОЙ. Xin nhắc, trong mệnh đề phủ định thì danh từ, đại từ, liên từ chỉ sự thiếu vắng người hay vật nào đó, luôn để ở cách 2.
Và cuối cùng là thí dụ với liên từ số nhiều КОТОРЫЕ.
ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ. Я ПОЛУЧИЛ ОТ НИХ ВЧЕРА ПИСЬМО. – ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ, ОТ КОТОРЫХ Я ПОЛУЧИЛ ВЧЕРА ПИСЬМО. Đây là ảnh của các bạn tôi. Hôm qua tôi đã nhận được thư (của, từ) các bạn. – Đây là ảnh của các bạn tôi, những người mà chiều qua tôi nhận được thư.
Ở đây liên từ КОТОРЫЕ đứng ở cách 2 và có đuôi là –ЫХ.
Để hiểu rõ hơn về chủ đề không đơn giản này, mời các bạn nghe thêm mấy thí dụ nữa. Chúng tôi sẽ đọc hai câu đơn, và sau đó sẽ đọc câu phức hợp cấu tạo từ những câu đơn này.
АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ. У ДРУГА БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. – АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ, У КОТОРОГО БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. Anton đi xem phim với bạn. Anh bạn có vé thừa. – Anton đi xem với bạn, người có vé thừa.
Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ. У НЕЕ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. – Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình. Hôm nay là ngày sinh nhật của cô ấy. – Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình, người mà hôm nay là ngày sinh nhật.
Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ. ИХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. – Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ, КОТОРЫХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê. Hôm nay họ không có mặt ở trường đại học. – Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê, những người hôm nay không có mặt ở trường đại học.
Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ ở cách 2.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 50

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Tania, chị đang nghĩ gì vậy?
Я ДУМАЮ О СВОЕЙ ПОДРУГЕ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi nghĩ về cô bạn, có sinh nhật vào hôm nay.
Hôm nay chúng ta sẽ làm quen với một đại từ, không có tương tự trong các ngôn ngữ châu Âu. Đó là đại từ СВОЙ. Nó chỉ những vật hay hiện tượng thuộc về người nào đó, và cần đến khi mô tả hành động diễn ra với người đó. Thí dụ:
АННА ЗАБОТИТСЯ О СВОЕМ ЗДОРОВЬЕ. Anna chăm lo (quan tâm) về sức khỏe của mình. Sức khỏe của ai? Cô ấy làm gì? Chăm lo (quan tâm).
ПОДУМАЙ О СВОЕЙ УЧЕБЕ! Hãy nghĩ về chuyện học tập của mình! Chuyện học tập của ai? Bạn cần làm gì? Hãy nghĩ về học tập.
У МОЕГО ДРУГА ДВЕ СОБАКИ. ОН ЧАСТО РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОИХ ПИТОМЦАХ. Bạn tôi có hai con chó. Anh ấy thường kể với tôi về những con vật nuôi của mình. Chó của ai? Của anh bạn tôi. Anh ấy làm gì? Kể về những con vật nuôi.
Đại từ СВОЙ thống nhất về giống và số với danh từ mà nó đi kèm.
СВОЙ ДОМ – là giống đực số ít, СВОЯ СЕСТРА – giống cái số ít, СВОЕ МЕСТО – giống trung số ít, СВОИ ЗАНЯТИЯ – số nhiều.
Để hiểu rõ hơn về đặc điểm của đại từ СВОЙ, chúng ta sẽ nghe đoạn văn ngắn.
МОЯ БАБУШКА – ОЧЕНЬ ИНТЕРЕСНЫЙ ЧЕЛОВЕК. ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ. Я МЕЧТАЮ НАПИСАТЬ КНИГУ О СВОЕЙ БАБУШКЕ. Bà tôi là con người rất thú vị. Bà hay hồi tưởng về thời tuổi trẻ của mình. Tôi thích nghe những câu chuyện về cuộc đời của bà. Tôi mơ ước viết cuốn sách về người bà của mình.
Chúng ta sẽ so sánh hai mệnh đề.
ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЁ ЖИЗНИ.
Trong cả hai mệnh đề đều có đại từ giống cái số ít trong câu giới từ:
О СВОЕЙ và О ЕЁ. Vậy có gì khác nhau ở đây? Điều bí mật ẩn chứa trong đối tượng của hành động. Trong mệnh đề ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ thì đối tượng hành động ОНА, tức là bà, nhớ lại về thời thanh xuân thuộc về bà. Vì thế ở đây cần dùng đại từ СВОЕЙ. Còn trong mệnh đề
Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ thì đối tượng hành động là Я, tức là cậu bé nghe chuyện kể về cuộc đời bà, cuộc đời không thuộc về cậu bé này, vì thế cần dùng đại từ ЕЁ.
Bây giờ thêm một đọan ngắn nữa có sử dụng đại từ СВОЙ.
Я НЕ ЛЮБЛЮ ПИСАТЬ ПИСЬМА. ПОЭТОМУ Я ЧАСТО ЗВОНЮ ДОМОЙ И РАССКАЗЫВАЮ О СВОЕЙ ЖИЗНИ В МОСКВЕ, О СВОИХ УСПЕХАХ В УЧЕБЕ, О СВОЕМ НОВОМ ДРУГЕ. КОГДА Я ГОВОРЮ С МАМОЙ, Я УЗНАЮ НОВОСТИ О СВОЕЙ СЕМЬЕ: О СВОЕМ ОТЦЕ И СВОЕЙ МЛАДШЕЙ СЕСТРЕ. МАМА РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОЕЙ РАБОТЕ. Tôi không thích viết thư. Vì thế tôi thường gọi điện về nhà và kể về cuộc sống của mình ở Matxcơva, về những thành tích của mình trong học tập, về người bạn mới của mình. Khi tôi nói chuyện với mẹ, tôi được biết tin mới về gia đình của mình: về cha của tôi và em gái út của tôi. Mẹ kể cho tôi về công việc của mẹ.
Các bạn hãy phân tích câu chuyện nhỏ này và lý giải xem vì sao trong bài cần dùng đại từ СВОЙ ở giống và số khác nhau.
Bài học hôm nay đến đây tạm dừng.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 51


Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga với các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Các bạn đã biết mệnh đề phức hợp cấu tạo như thế nào, những liên từ này đứng ở đâu trong cách 1 và cách 2. Nào, ta hãy ôn lại một chút.
ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ. Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi, người sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi, người sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê, ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng, loại bánh mà chúng tôi rất thích.
Ở đây có các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ đứng ở cách 1 (nguyên cách).
ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОРОГОБОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. У МОЕГО ДРУГА ЕСТЬ КНИГА, КОТОРОЙ НЕТ В БИБЛИОТЕКЕ. ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА, ИЗ КОТОРОГО ВИДНО МОРЕ. ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ, ОТ КОТОРЫХ Я ПОЛУЧИЛ ВЧЕРА ПИСЬМО. Đây là anh trai tôi, người có một gia đình lớn. Bạn tôi có cuốn sách, mà trong thư viện không có. Cô gái ngồi bên cửa sổ, từ đó thấy rõ biển. Đây là tấm ảnh các bạn tôi, những người mà tôi nhận thư hôm qua.
Ở đây có các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ đứng ở cách 2 (sinh cách).
Còn bây giờ chúng ta sẽ làm quen với những mệnh đề có liên từ đứng ở cách 6 (giới cách).
ЭТО ИНСТИТУТ. В ЭТОМИНСТИТУТЕ УЧАТСЯ МОИ ДРУЗЬЯ. Đây là trường đại học. Сáс bạn tôi đang theo học trong trường đại học này.
– ЭТО ИНСТИТУТ, В КОТОРОМУЧАТСЯ МОИ ДРУЗЬЯ.
Đây là trường đại học, nơi các bạn tôi đang theo học.
Trong mệnh đề cách 6 tính từ và đại từ chỉ định giống đực số ít có tận cùng là –ОМ, có nghĩa là giới từ КОТОРЫЙ cũng cần có tận cùng tương ứng như vậy.
В ЭТОМ – В КОТОРОМ.
Thí dụ khác:
А ЭТО МОЯ ШКОЛА. В ЭТОЙ ШКОЛЕ Я УЧИЛАСЬ ДЕСЯТЬ ЛЕТ. Còn đây là trường phổ thông của tôi. Tôi đã học trong trường này mười năm.
– А ЭТО МОЯ ШКОЛА, В КОТОРОЙЯ УЧИЛАСЬ ДЕСЯТЬ ЛЕТ.
– Còn đây là trường phổ thông của tôi, nơi tôi đã học mười năm.
Trong mệnh đề cách 6, giống như ở cách 2, tính từ và đại từ chỉ định giống cái số ít có tận cùng là –ОЙ. Tức là cả liên từ КОТОРАЯ cũng phải có tận cùng như vậy.
В ЭТОЙ – В КОТОРОЙ.
Thêm thí dụ nữa:
ВОТ МАЛЕНЬКОЕ УЮТНОЕ КАФЕ. В ЭТОМКАФЕ МЫ С ДРУЗЬЯМИ ЧАСТО ПЬЕМ КОФЕ. Đó là quán cà phê nhỏ tiện lợi (ấm cúng). Chúng tôi cùng bạn bè thường uống cà phê trong quán này.
– ВОТ МАЛЕНЬКОЕ УЮТНОЕ КАФЕ, В КОТОРОММЫ С ДРУЗЬЯМИ ЧАСТО ПЬЕМ КОФЕ.
Đó là quán cà phê nhỏ tiện lợi (ấm cúng), nơi chúng tôi cùng bạn bè thường uống cà phê.
Trong mệnh đề cách 6 tính từ và đại từ chỉ định giống trung số ít có tận cùng là –ОМ, có nghĩa là liên từ КОТОРОЕ cũng có tận cùng như vậy.
В ЭТОМ – В КОТОРОМ.
Chúng ta hãy xem một thí dụ nữa:
ПОЗНАКОМЬСЯ! ЭТО МОИ ДРУЗЬЯ АНТОН И САША. ОБ ЭТИХ РЕБЯТАХ Я МНОГО ТЕБЕ РАССКАЗЫВАЛА. Mời làm quen nhé! Đây là các bạn tôi – Anton và Sasha. Tôi đã kể nhiều với cậu về các bạn này.
– ПОЗНАКОМЬСЯ! ЭТО МОИ ДРУЗЬЯ АНТОН И САША, О КОТОРЫХ Я МНОГО ТЕБЕ РАССКАЗЫВАЛА.
– Mời làm quen nhé! Đây là các bạn tôi Anton và Sasha, những người mà tôi đã kể nhiều với cậu đấy.
Trong mệnh đề cách 6, cùng giống như trong cách 2, các liên từ số nhiều КОТОРЫЕ có tận cùng là –ЫХ.
Xin mời các bạn nghe thêm câu chuyện nhỏ, trong đó sử dụng mệnh đề với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ ở các cách khác nhau.
ВЧЕРА Я ПОСМОТРЕЛА ТЕЛЕПЕРЕДАЧУ, КОТОРАЯ МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛАСЬ. В НЕЙ ВЫСТУПАЛ ЮНОША, КОТОРЫЙ НАПИСАЛ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ. ОНА ОПИСЫВАЕТ ЯВЛЕНИЕ, О КОТОРОМ МНОГО ГОВОРЯТ. ЭТО ЯВЛЕНИЕ – ПАДЕНИЕ МЕТЕОРИТОВ. АВТОР РАССКАЗАЛ МНОГО СЛУЧАЕВ, КОТОРЫХ НИКТО НЕ ЗНАЛ. В СТУДИИ БЫЛО МНОГО ЛЮДЕЙ. АВТОР ВСЕМ ПОДАРИЛ СВОЮ КНИГУ, НА КОТОРОЙ ОСТАВИЛ СВОЙ АВТОГРАФ.
Hôm qua tôi xem chương trình truyền hình mà tôi rất thích. Trong đó (chương trình) có phát biểu của chàng trai trẻ, người đã viết một cuốn sách thú vị. Cuốn sách mô tả những hiện tượng, mà mọi người đang nói đến nhiều. Đó là hiện tượng thiên thạch rơi (sao băng). Tác giả kể về nhiều trường hợp mà chưa ai được biết. Trong trường quay có đông người dự. Tác giả tặng cho tất cả những cuốn sách của anh, trong đó anh đã ghi thủ bút.
Các bạn thân mến, đề nghị các bạn phân tích đoạn văn này, xác định xem các liên từ trong câu đứng ở cách nào.
Bài học đến đây tạm ngừng. Các bạn hãy củng cố thêm kiến thức của chủ đề này bằng cách truy cập trang điện tử của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 52

© The Voice of Russia

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Các bạn đã biết đặt câu như thế nào, những liên từ có biến đổi đuôi ra sao khi đứng trong câu cách 1, cách 2 và cách 6. Hôm nay chúng ta sẽ xem, mệnh đề với liên từ ở cách 3 và cách 4 sẽ cấu tạo ra sao.
Trong cách 3 (tặng cách) từ giống đực КОТОРЫЙ và giống trung КОТОРОЕ có phần kết thúc giống nhau là – ОМУ.
ЭТО НАШ СТАРЕЙШИЙ ИНСТИТУТ. ЕМУ ИСПОЛНИЛОСЬ СТО ПЯТЬДЕСЯТ ЛЕТ. – ЭТО НАШ СТАРЕЙШИЙ ИНСТИТУТ, КОТОРОМУИСПОЛНИЛОСЬ СТО ПЯТЬДЕСЯТ ЛЕТ. Đây là trường đại học cao niên nhất của chúng ta. Trường đã tròn 150 năm tuổi. – Đây là trường đại học cao niên nhất của chúng ta, đã tròn 150 năm tuổi.
ЭТО САМОЕ КРАСИВОЕ ОЗЕРО В НАШЕМ РАЙОНЕ. К НЕМУ КАЖДЫЙ ДЕНЬ ПРИХОДЯТ СОТНИ ЛЮДЕЙ. – ЭТО САМОЕ КРАСИВОЕ ОЗЕРО В НАШЕМ РАЙОНЕ, К КОТОРОМУ КАЖДЫЙ ДЕНЬ ПРИХОДЯТ СОТНИ ЛЮДЕЙ. Đây là chiếc hồ nước đẹp nhất trong khu vực của chúng tôi. mỗi ngày đều có hàng trăm người tới thăm. – Đây là chiếc hồ nước đẹp nhất trong khu vực của chúng tôi, mỗi ngày đều có hàng trăm người tới thăm.
Còn sau đây là thí dụ mệnh đề với liên từ giống cái КОТОРАЯ và số nhiều КОТОРЫЕ ở cách 3.
Я ВСТРЕТИЛА НА УЛИЦЕ СВОЮ ПОДРУГУ. Я ЗВОНИЛА ЭТОЙ ПОДРУГЕ ВСЕГО ЧАС НАЗАД. – Я ВСТРЕТИЛА НА УЛИЦЕ СВОЮ ПОДРУГУ, КОТОРОЙ Я ЗВОНИЛА ВСЕГО ЧАС НАЗАД. Tôi đã gặp bạn gái của mình trên phố. Chỉ một giờ trước tôi đã gọi điện cho người bạn này. – Tôi đã gặp trên phố người bạn gái mà tôi vừa gọi điện trước đó một giờ .
В ТЕЛЕПЕРЕДАЧЕ ПОКАЗЫВАЛИ ПЯТЕРЫХ БРАТЬЕВ-БЛИЗНЕЦОВ. ИМ НЕДАВНО ПОДАРИЛИ КВАРТИРУ. – В ТЕЛЕПЕРЕДАЧЕ ПОКАЗЫВАЛИ ПЯТЕРЫХ БРАТЬЕВ-БЛИЗНЕЦОВ, КОТОРЫМ НЕДАВНО ПОДАРИЛИ КВАРТИРУ. Trên truyền hình chiếu những anh chị em sinh 5. Cách đây chưa lâu (người ta) đã tặng cho họ căn hộ.- Trên truyền hình chiếu cảnh những anh chị em sinh 5, những người cách đây chưa lâu được tặng căn hộ.
Trong mệnh đề cách 4 (đối cách), dành cho liên từ КОТОРЫЙ sẽ có hai phương án, tùy thuộc ở việc đó là câu nói về động vật hay bất động vật.
В АУДИТОРИЮ ВОШЕЛ ПРЕПОДАВАТЕЛЬ. ЭТОГО ПРЕПОДАВАТЕЛЯ МЫ ВСЕ ЛЮБИМ. – В АУДИТОРИЮ ВОШЕЛ ПРЕПОДАВАТЕЛЬ, КОТОРОГОМЫ ВСЕ ЛЮБИМ. Giảng viên bước vào giảng đường. Giảng viên này được tất cả chúng tôi yêu mến. – Bước vào giảng đường là giảng viên mà tất cả chúng tôi đều yêu mến.
АНТОН ЕЗДИТ НА АВТОМОБИЛЕ. ЭТОТ АВТОМОБИЛЬ ЕМУ ПОДАРИЛИ РОДИТЕЛИ. – АНТОН ЕЗДИТ НА АВТОМОБИЛЕ, КОТОРЫЙЕМУ ПОДАРИЛИ РОДИТЕЛИ. Anton đi trên xe ô tô. Chiếc ô tô này là bố mẹ tặng anh ấy. – Anton đi trên chiếc xe ô tô mà bố mẹ đã tặng anh ấy.
ПРЕПОДАВАТЕЛЬ – là danh từ động vật cho nên liên từ thay thế sẽ có phần kết là -ОГО. Còn АВТОМОБИЛЬ – là danh từ bất động vật, do đó liên từ thay thế sẽ có tận cùng giống như trong câu cách 1 là –ЫЙ.
Bây giờ ta sẽ xem những mệnh đề phức hợp này sẽ như thế nào với liên từ giống cái КОТОРАЯ, giống trung КОТОРОЕ và số nhiều КОТОРЫЕ.
ВЧЕРА Я КУПИЛА КНИГУ. ЭТУ КНИГУ Я ДОЛГО ИСКАЛА. – ВЧЕРА Я КУПИЛА КНИГУ, КОТОРУЮ ДОЛГО ИСКАЛА. Hôm qua tôi đã mua cuốn sách. Cuốn sách này tôi đã kiếm từ lâu. – Hôm qua tôi đã mua cuốn sách mà tôi kiếm từ lâu.
В ЦЕНТРЕ ГОРОДА СТОИТ ЗДАНИЕ ТЕАТРА. ЭТО ЗДАНИЕ ПОСТРОИЛ ИЗВЕСТНЫЙ АРХИТЕКТОР. – В ЦЕНТРЕ ГОРОДА СТОИТ ЗДАНИЕ ТЕАТРА, КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ИЗВЕСТНЫЙ АРХИТЕКТОР. Ở trung tâm thành phố có (tòa nhà) Nhà hát. Tòa nhà này do kiến trúc sư nổi tiếng xây dựng. – Ở trung tâm thành phố có (tòa nhà) Nhà hát, do kiến trúc sư nổi tiếng xây dựng.
МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛИСЬ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛЮДА. Я ПОПРОБОВАЛА ЭТИ БЛЮДА В ПЕРВЫЙ РАЗ. – МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛИСЬ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛЮДА, КОТОРЫЕ Я ПОПРОБОВАЛА В ПЕРВЫЙ РАЗ.
Tôi rất thích các món ăn Việt Nam. Tôi đã nếm những món này lần đầu tiên. – Tôi rất thích các món ăn Việt Nam mà tôi nếm lần đầu tiên.
Bài học của chúng ta hôm nay đến đây tạm ngừng. Chúc các bạn gặt hái nhiều thành công và hẹn tới cuộc gặp mới trên làn sóng điện phát thanh. Mời các bạn ghé thăm trang điện tử của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 53

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

***

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

ЗДРАВСТВУЙТЕ!

Với bài học hôm nay chúng ta sẽ khép lại chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga với các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.

Các bạn đã biết mệnh đề phức hợp cấu tạo thế nào, những liên từ biến đổi đuôi ra sao trong cách 1, cách 2, cách 3, cách 4 và cách 6. Còn lại cách cuối cùng là cách 5 – tạo cách.

ЭТО МОЙ НОВЫЙ ДРУГ. С МОИМ НОВЫМ ДРУГОМ МЫ ЧАСТО ХОДИМ НА ДИСКОТЕКИ. – ЭТО МОЙ НОВЫЙ ДРУГ, С КОТОРЫМ МЫ ЧАСТО ХОДИМ НА ДИСКОТЕКИ. Đây là người bạn mới của tôi. Chúng tôi cùng với người bạn mới của tôi thường đến sàn nhảy. – Đây là người bạn mới của tôi, mà chúng tôi thường cùng đến sàn nhảy.

В МУЗЕЕ МЫ ВИДЕЛИ СТАРИННОЕ ГУСИНОЕ ПЕРО. ЭТИМ СТАРИННЫМ ГУСИНЫМ ПЕРОМ ПИСАЛ СВОИ СТИХИ ВЕЛИКИЙ РУССКИЙ ПОЭТ АЛЕКСАНДР ПУШКИН. – В МУЗЕЕ МЫ ВИДЕЛИ СТАРИННОЕ ГУСИНОЕ ПЕРО, КОТОРЫМ ПИСАЛ СВОИ СТИХИ ВЕЛИКИЙ РУССКИЙ ПОЭТ АЛЕКСАНДР ПУШКИН. Trong Viện bảo tàng chúng tôi đã thấy chiếc bút lông ngỗng cổ xưa. Đại thi hào Nga Aleksandr Pushkin đã viết những bài thơ của ông bằng chiếc bút lông ngỗng này. – Trong Viện bảo tàng chúng tôi đã thấy chiếc bút lông ngỗng cổ xưa, mà đại thi hào Nga Aleksandr Pushkin đã dùng để viết những bài thơ của ông.

Như các bạn đã thấy, trong cách 5-tạo cách liên từ giống đực КОТОРЫЙ và liên từ giống trung КОТОРОЕ có hình thức giống nhau là КОТОРЫМ.

Я ЕЩЕ НЕ ВИДЕЛА НОВУЮ СТАНЦИЮ МЕТРО. РЯДОМ С ЭТОЙ СТАНЦИЕЙ МЕТРО ТЫ ЖИВЕШЬ. – Я ЕЩЕ НЕ ВИДЕЛА НОВУЮ СТАНЦИЮ МЕТРО, РЯДОМ С КОТОРОЙ ТЫ ЖИВЕШЬ.Tớ còn chưa được thấy ga tàu điện ngầm mới. Cậu sống bên cạnh ga tàu điện ngầm mới này. – Tớ còn chưa được thấy ga tàu điện ngầm mới, mà cậu sống bên cạnh.

Trong cách 5, liên từ giống cái КОТОРАЯ có tận cùng là -ОЙ.

РОДИТЕЛИ ЧАСТО НЕ ПОНИМАЮТ ФИЛЬМОВ. ЭТИМИ ФИЛЬМАМИ ВОСХИЩАЮТСЯ ИХ ДЕТИ. – РОДИТЕЛИ ЧАСТО НЕ ПОНИМАЮТ ФИЛЬМОВ, КОТОРЫМИ ВОСХИЩАЮТСЯ ИХ ДЕТИ. Cha mẹ thường không hiểu các bộ phim. Các con của họ thán phục những bộ phim này. – Cha mẹ thường không hiểu các bộ phim mà các con của họ thán phục.

Liên từ số nhiều КОТОРЫЕ trong cách 5 có phần đuôi là -ЫМИ.

Bây giờ chắc các bạn đã nắm được hình thức cấu tạo câu với các liên từ

КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ như thế nào. Những mệnh đề kiểu này rất thông dụng trong tiếng Nga, nhất là trong văn viết. Để hiểu rõ hơn về chủ đề này, mời các bạn cũng nghe thêm những mệnh đề sau đây.

ТАНЯ: НЕДАВНО Я ВСТРЕТИЛАСЬ СО СВОИМИ ДРУЗЬЯМИ, КОТОРЫЕ ПРИЕХАЛИ В МОСКВУ ИЗ САНКТ-ПЕТЕРБУРГА. ЭТО МОЙ СТАРЫЙ ДРУГ, ОТ КОТОРОГО Я ЧАСТО ПОЛУЧАЮ ПИСЬМА. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, К КОТОРОЙ Я ЛЕТОМ ПОЕДУ В ГОСТИ. Я СДЕЛАЛА ВИДЕОФИЛЬМ ОБ ЭТИХ МОИХ ДРУЗЬЯХ, КОТОРЫХ Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ. Я ПОЗНАКОМИЛА СВОИХ РОДИТЕЛЕЙ С ДРУЗЬЯМИ, С КОТОРЫМИ ПРОВЕЛА МНОГО ХОРОШИХ ДНЕЙ. ВОТ ФОТОГРАФИИ МОИХ ДРУЗЕЙ, О КОТОРЫХ Я ТАК МНОГО РАССКАЗЫВАЛА. Cách đây chưa lâu tôi gặp (gỡ với) các bạn của mình, những người đến Matxcơva từ Saint-Peterburg. Đó là người bạn cũ của tôi, mà tôi thường hay nhận được thư (từ anh, của anh). Đó là bạn gái của tôi, người mà hè này tôi sẽ đến thăm nhà. Tôi đã quay (làm) một cuốn băng video về những người bạn mà tôi rất quí mến. Tôi đã giới thiệu cha mẹ mình với các bạn, những người mà tôi đã có chung nhiều ngày tốt lành. Đây là tấm ảnh những người bạn mà tôi hay kể chuyện.

Bài học của chúng ta hôm nay đến đây tạm ngừng.

ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 54

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Trong những bài học gần đây chúng ta nghiên cứu mệnh đề với hai thành tố chủ ngữ và vị ngữ, biểu thị chủ thể hành động và bản thân hành động hoặc chất lượng, tính chất, vai trò của đối tượng.
АНТОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. Anton sống ở Matxcơva.
Кто? (chủ ngữ)– Антон. Что он делает? (hành động) – Живет.
ОН СТУДЕНТ УНИВЕРСИТЕТА. Anh ấy là sinh viên Đại học Tổng hợp.
Кто? (chủ ngữ) – Он. Anh ấy có vị trí nào trong phân loại xã hội-dân cư – Студент университета.
ВЬЕТНАМСКИЕ ПЕСНИ ОЧЕНЬ КРАСИВЫЕ. Những bài ca Việt Nam rất đẹp.
Что? (chủ ngữ) – Песни. Những bài ca có chất lượng như thế nào? – Очень красивые.
Nhưng trong tiếng Nga, trái với nhiều ngôn ngữ khác, phần lớn các mệnh đề chỉ có một thành phần chính, chủ ngữ hay vị ngữ. Những mệnh đề này được gọi là đơn thành phần. Hôm nay chúng ta sẽ phân tích về những câu như vậy.
Khi ta muốn chỉ ra sự tồn tại của một đối tượng hoặc hiện tượng, ta cần sử dụng câu với một chủ ngữ.
СЕРЫЙ ОСЕННИЙ ДЕНЬ. ХОЛОДНЫЙ МЕЛКИЙ ДОЖДЬ. Một ngày thu xám xịt. Mưa nhỏ lạnh lẽo.
Những mệnh đề như vậy thường được dùng trong thơ để tạo cảnh quan. Thí dụ, một bài thơ nổi tiếng của đại thi hào Nga Aleksandr Blok bắt đầu như sau:
НОЧЬ. УЛИЦА. ФОНАРЬ. АПТЕКА. Đêm. Đường phố. Đèn lồng. Hiệu thuốc.
Bằng những câu với một chủ ngữ là danh từ, nhà thơ đã vẽ nên trước mắt chúng ta bức tranh quãng phố không người của thành Petersburg.
Cũng thường thấy là trong tiếng Nga hay sử dụng câu với một vị ngữ. Thí dụ, mệnh đề nói về hành động hoặc tình trạng của người nói hoặc của người đối thoại. Vị ngữ trong những câu như thế là động từ chia ở ngôi thứ nhất hoặc thứ hai, số ít hoặc số nhiều.
Đó có thể là lời khẳng định, câu hỏi hoặc cảm thán.
ЖЕЛАЮ ВАМ СЧАСТЬЯ! Xin chúc bạn hạnh phúc!
Động từ chia theo dạng chỉ hành động của ngôi thứ nhất số ít.
ОБЯЗАТЕЛЬНО ПОЗВОНИ МНЕ ВЕЧЕРОМ! Buổi chiều nhất định gọi điện cho tôi nhé!
Động từ là mệnh lệnh thức đi với ngôi thứ hai, số ít.
НАД КЕМ СМЕЕТЕСЬ? Cười ai thế?
Động từ đứng ở dạng phù hợp với ngôi thứ hai, số nhiều.
Khi đối với ta chủ ngữ là không quan trọng, mà phần quan trọng trong câu là hành động, thì ta dùng câu với vị ngữ thể hiện bằng động từ ngôi thứ ba số nhiều, thì hiện tại, quá khứ hoặc tương lai.
ПОЧТУ ОБЫЧНО ПРИНОСЯТ УТРОМ. (Người ta) thường mang thư đến vào buổi sáng.
Không quan trọng là ai mang thư, mà điều chính ở đây là hành động – mang thư đến. Vị ngữ là động từ chia ở ngôi thứ ba, số nhiều, thì hiện tại.
ЭТОТ МОСТ ПОСТРОИЛИ В ПРОШЛОМ ГОДУ. Cây cầu này xây xong năm ngoái.
Vị ngữ là động từ chia với ngôi thứ ba, số nhiều, thì quá khứ.
ВАМ ЗДЕСЬ ВСЕГДА БУДУТ РАДЫ! Ở đây luôn vui mừng (chào đón) bạn!
Vị ngữ trong câu này là động từ chia ở ngôi thứ ba, số nhiều, thì tương lai và tính từ ngắn đuôi.
Phương án phổ biến nhất kiểu này là những câu với từ ГОВОРЯТ, ГОВОРИЛИ.
ГОВОРЯТ, ЛЕТО БУДЕТ ЖАРКИМ. Nghe (Người ta) nói là mùa hè sẽ nóng nực.
Thường thấy dạng mệnh đề với một vị ngữ được dùng trong tục ngữ. Trong đó, động từ mặc dù được sử dụng trong hình thức ngôi thứ hai, số ít, nhưng lại có ý nghĩa tổng quát. Thí dụ.
БЕЗ ТРУДА НЕ ВЫНЕШЬ И РЫБКУ ИЗ ПРУДА. Không lao động thì chẳng mang cá từ ao lên được.
Ở đây động từ chia ở ngôi thứ hai số ít, nhưng lại không chỉ cụ thể người đang tham gia đối thoại, mà về tất cả mọi người nói chung và xa hơn còn muốn nói đến giá trị của lao động.
Bây giờ thêm một câu loại mệnh đề một vị ngữ là câu vô nhân xưng. Trong câu nói về hành động hay tình trạng, không phụ thuộc vào chủ thể nào. Vị ngữ có thể là động từ, tính từ ngắn đuôi hay chỉ là từ phủ định НЕТ. Thí dụ:
ВЕЧЕРЕЕТ. Chiều (buông) xuống.
Ở đây động từ ở dạng ngôi thứ ba, số ít, biểu thị tình trạng của thiên nhiên, không phụ thuộc vào ai đang nói.
МНЕ ХОЛОДНО И СТРАШНО. Tôi lạnh và sợ hãi.
Ở đây tình trạng của con người được thể hiện bằng hai tính từ ngắn đuôi.
БОЛЬШЕ АРБУЗА ЯГОДЫ НЕТ. Không có quả mọng nào lớn hơn dưa hấu.
Trong câu này, đảm nhận chức năng vị ngữ là từ НЕТ.
Sau khi nghe trên làn sóng điện, các bạn có thể hiểu rõ hơn về chủ đề câu đơn thành phần nếu tham khảo chuyên mục “Chúng ta học tiếng Nga” trên trang điện tử tiếng Việt của Đài “Tiếng nói nước Nga”. Xin chúc thành công.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 55

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Đề tài bài học hôm nay của chúng ta là cách nói gián tiếp trong tiếng Nga.
АНТОН: ЗУНГ, КУДА ТЫ ИДЕШЬ? – ЗУНГ: Я ИДУ В СТОЛОВУЮ.
Anton: Dũng, cậu đi đâu đấy? – Dũng: Tớ đến nhà ăn.
Đây là cách nói trực tiếp, trong ngữ cảnh này có hai người tham gia.
АНТОН СПРОСИЛ У ЗУНГА, КУДА ОН ИДЕТ. ЗУНГ ОТВЕТИЛ, ЧТО ИДЕТ В СТОЛОВУЮ. Anton hỏi Dũng đang đi đâu. Dũng trả lời là đi đến nhà ăn.
Đây là cách nói gián tiếp. Người thứ ba thuật lại những gì mà hai thành viên của cuộc đối thoại nói với nhau.
ИРА: МАША, С КЕМ ТЫ ХОДИЛА В КИНО? – МАША: С ПОДРУГОЙ.
Ira: Masha, cậu đi xem phim với ai thế? – Masha: Đi với bạn gái.
ИРА СПРОСИЛА У МАШИ, С КЕМ ОНА ХОДИЛА В КИНО. МАША ОТВЕТИЛА, ЧТО ХОДИЛА С ПОДРУГОЙ.
Ira hỏi Masha đi xem phim với ai, Masha trả lời rằng đi với bạn gái.
СТУДЕНТЫ: КОГДА БУДЕТ ВАША СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ? – ПРЕПОДАВАТЕЛЬ: ПОСЛЕЗАВТРА.
Các sinh viên: Bao giờ lại có bài giảng tiếp theo của thầy ạ? – Giảng viên: Ngày kia.
СТУДЕНТЫ СПРОСИЛИ ПРЕПОДАВАТЕЛЯ, КОГДА БУДЕТ ЕГО СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ. ПРЕПОДАВАТЕЛЬ СКАЗАЛ, ЧТО ЛЕКЦИЯ БУДЕТ ПОСЛЕЗАВТРА.
Các sinh viên hỏi giảng viên, khi nào có bài giảng tiếp theo của thầy. Giảng viên trả lời rằng, ngày kia sẽ có.
Làm thế nào để chuyển đổi cách nói trực tiếp thành lời kể gián tiếp? Trong mệnh đề đầu tiên chủ ngữ là tên hoặc định danh của người nói, còn từ vị ngữ СПРОСИЛ ở dạng phù hợp về giống và số. Sau đó gọi tên hoặc định danh của người được hỏi trong cách 2 (sinh cách) và lặp lại câu hỏi. Trong câu hỏi, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai ТЫ hoặc ВЫ đổi thành đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, ОН, ОНА, ОНИ. Động từ trong câu cũng đổi, từ chỗ chia theo ngôi thứ hai sang dạng phù hợp với ngôi thứ ba.
ЗУНГ, КУДА ТЫ ИДЕШЬ? – АНТОН СПРОСИЛ У ЗУНГА, КУДА ОН ИДЕТ.
Dũng, cậu đi đâu đấy? – Anton hỏi Dũng là anh ấy đang đi đâu.
МАША, С КЕМ ТЫ ХОДИЛА В КИНО? – ИРА СПРОСИЛА У МАШИ, С КЕМ ОНА ХОДИЛА В КИНО.
Masha, cậu đi xem phim với ai thế? – Ira hỏi Masha cô ấy đi xem phim với ai.
КОГДА БУДЕТ ВАША СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ? – СТУДЕНТЫ СПРОСИЛИ У ПРЕПОДАВАТЕЛЯ, КОГДА БУДЕТ ЕГО СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ.
Bao giờ có bài giảng tiếp theo của thầy ạ? – Các sinh viên hỏi giảng viên khi nào lại có bài giảng tiếp theo của thầy.
Trong mệnh đề trả lời, cần dùng từ ОТВЕТИЛ được chia phù hợp với số và giống.
МАША ОТВЕТИЛА, ЧТО ХОДИЛА С ПОДРУГОЙ.
Masha trả lời rằng đi xem phim với bạn gái.
Còn thêm một phương án chuyển từ biểu đạt trực tiếp sang tường thuật gián tiếp gắn với động từ dạng mệnh lệnh thức. Dạng mệnh lệnh thức của động từ biểu thị yêu cầu, đề nghị hoặc mệnh lệnh, sai khiến. Động từ mệnh lệnh thức sử dụng phù hợp với số ít hay số nhiều ngôi thứ hai.
ПОГУЛЯЙ С СОБАКОЙ! ПОЖАЛУЙСТА, ЗАКРОЙТЕ ОКНО!
Hãy mang chó đi dạo! Làm ơn đóng cửa sổ vào!
Đây là thí dụ chuyển từ câu yêu cầu-đề nghị hay ra lệnh sang dạng gián tiếp.
РОДИТЕЛИ СКАЗАЛИ СЫНУ: «УЧИСЬ ХОРОШО!» – РОДИТЕЛИ СКАЗАЛИ СЫНУ, ЧТОБЫ ОН ХОРОШО УЧИЛСЯ.
Bố mẹ bảo cậu con trai: “Hãy học tốt!” – Bố mẹ bảo con trai để cậu ta học tập tốt.
АНТОН СКАЗАЛ СВОИМ ДРУЗЬЯМ: «НЕ СКУЧАЙТЕ!»- АНТОН СКАЗАЛ СВОИМ ДРУЗЬЯМ, ЧТОБЫ ОНИ НЕ СКУЧАЛИ.
Anton nói với các bạn của mình: “Đừng buồn!” – Anton nói với các bạn để họ đừng buồn.
Như các bạn thấy đấy, động từ dạng mệnh lệnh thức biến đổi trong câu phụ với liên từ ЧТОБЫ.
Còn một phương án nữa chuyển đổi câu mệnh lệnh thức với yêu cầu hoặc mệnh lệnh.
ПРЕКРАТИТЕ РАЗГОВАРИВАТЬ! – УЧИТЕЛЬ ВЕЛЕЛ УЧЕНИКАМ ПРЕКРАТИТЬ РАЗГОВАРИВАТЬ.
Hãy chấm dứt nói chuyện riêng! – Thầy giáo yêu cầu các học trò ngừng nói chuyện riêng.
Nếu động từ trong câu mệnh lệnh biểu thị mệnh lệnh, thì trong dạng gián tiếp cần dùng từ ВЕЛЕТЬ hoặc ПРИКАЗАТЬ chia theo giống và số của chủ ngữ, động từ tiếp theo để nguyên thể vô nhân xưng.
ПОЖАЛУЙСТА, ПОМОГИТЕ МНЕ НЕСТИ ЧЕМОДАН, ОН ОЧЕНЬ ТЯЖЕЛЫЙ. – МАША ПОПРОСИЛА ПОМОЧЬ ЕЙ НЕСТИ ТЯЖЕЛЫЙ ЧЕМОДАН.
Làm ơn giúp tôi mang cái vali, nó nặng quá. – Masha đề nghị giúp cô ấy mang cái vali nặng.
Nếu động từ trong câu mệnh lệnh thức biểu thị yêu cầu, thì trong dạng gián tiếp cần dùng từ ПОПРОСИЛ ở giống và số phù hợp, tiếp theo động từ để nguyên thể vô nhân xưng.
Các bạn hãy tập luyện chuyển đổi tình huống câu nói trực tiếp sang trần thuật gián tiếp. Thí dụ những yêu cầu và mệnh lệnh như sau:
КУПИ ХЛЕБ, МОЛОКО И СЫР! ВЫМОЙ ПОСУДУ! НЕ БОЛТАЙ ДОЛГО ПО ТЕЛЕФОНУ! ПОЖАЛУЙСТА, ГОВОРИ ПОТИШЕ! ПОЖАЛУЙСТА, ПОЗВОНИ БАБУШКЕ!
Hãy mua bánh mì, sữa, và pho-mát! Rửa bát đĩa đi! Đừng tán gẫu suốt bằng điện thoại nữa! Làm ơn nói khẽ thôi! Làm ơn, hãy gọi điện cho bà!
Các bạn hãy tham khảo trang điện tử của Đài “Tiếng nói nước Nga”. Chúc các bạn thành công.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 56

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta trở lại với một trong những vấn đề phức tạp nhất của tiếng Nga là biến đổi danh từ, tính từ và đại từ theo các cách. Chính đây là điểm mà người nước ngoài học tiếng Nga thường hay bị nhầm. Đặc biệt là nếu như trong bản ngữ của người học không có hiện tượng như cách. Bây giờ ta hãy thử luyện tập sử dụng các cách, để tránh nhầm lẫn. Chúng ta bắt đầu từ cách 6 (giới cách). Cách này được đặt tên như vậy bởi vì danh từ và đại từ trong cách 6 luôn đi kèm với giới từ. Thí dụ, với giới từ О.
Lúc này ngoài cửa sổ đang có mưa, gió thổi mạnh. Tania, chị hãy nói xem chị mơ ước về điều gì?
Я МЕЧТАЮ ОБ ИНТЕРЕСНОМ ОТДЫХЕ, О СОЛНЕЧНОЙ ПОГОДЕ, О ТЕПЛОМ МОРЕ. Tôi mơ ước về kỳ nghỉ thú vị, về thời tiết nắng ráo, về biển ấm áp.
Trong mệnh đề này cần dùng danh từ giống đực, giống cái bà giống trung, tất cả khi ở cách 6 đều có đuôi kết thúc là –Е. Khi danh từ nguyên thể có phần vĩ tố là –ИЕ, thì trong cách 6 sẽ đổi thành đuôi –И.
ИВАН МЕЧТАЕТ О ХОРОШЕМ ПУТЕШЕСТВИИ. Ivan mơ ước về chuyến du ngoạn tốt đẹp.
Với cách 6 thường dùng những động từ như ДУМАТЬ – suy nghĩ, ГОВОРИТЬ – nói, РАССКАЗЫВАТЬ – kể chuyện, ПИСАТЬ – viết, ПОМНИТЬ – nhớ, ВСПОМИНАТЬ – nhớ lại, hồi tưởng.
Я ЧАСТО ДУМАЮ О МОЕМ СТАРОМ ДРУГЕ. Tôi thường nghĩ về người bạn cũ của tôi.
ТЫ МНОГО ГОВОРИШЬ О СВОЕЙ РАБОТЕ. Cậu nói nhiều về công viêc của mình.
ТЕЛЕПЕРЕДАЧА «МУЗЫКА И МЫ» РАССКАЗЫВАЕТ О СОВРЕМЕННОМ ИСКУССТВЕ. Buổi truyền hình “Âm nhạc và chúng ta” kể về nghê thuật hiện đại.
МЫ ПОМНИМ О ГЕРОЯХ ВОЙНЫ. Chúng tôi nhớ về những người anh hùng của cuộc chiến tranh.
ВЫ ЧАСТО ВСПОМИНАЕТЕ О СВОЕМ ДЕТСТВЕ? Anh (chi, các bạn) có hay hồi tường về thời thơ ấu của mình không?
ГАЗЕТЫ МНОГО ПИШУТ ОБ ИЗВЕСТНЫХ ПОЛИТИКАХ И АРТИСТАХ. Các báo viết nhiều về các nghệ sĩ và chính khách nổi tiếng.
Danh từ số nhiều của tất cả các giống trong câu cách 6 có tận cùng là –АХ hoặc –ЯХ.
Còn bây giờ xin lưu ý, tính từ trong mệnh đề cách 6 biến đổi như thế nào khi đi với danh từ các ngôi và giống.
БАБУШКА МЕЧТАЕТ ОБ УЮТНОМДЕРЕВЯННОМ ДОМЕ. Bà mơ ước về ngôi nhà gỗ tiện nghi (ấm cúng).
НИНА МЕЧТАЕТ О КРАСИВОМ МОДНОМПЛАТЬЕ. Nina mơ ước về bộ váy đẹp hợp thời trang.
Chắc các bạn đã nhận thấy là các tính từ trong câu cách 6 đều có phần đuôi như nhau, dù nguyên thể ban đầu khác nhau, vì chúng đi với những danh từ có giống khác nhau. ДОМ – là danh từ giống đực, vì thế УЮТНЫЙ và ДЕРЕВЯННЫЙ – là tính từ giống đực. ПЛАТЬЕ – là danh từ giống trung, do đó КРАСИВОЕ và МОДНОЕ – là tính từ giống trung. Nhưng chuyển sang cách 6, tất cả các tính từ này có phần đuôi giống nhau là -ОМ. Còn có một dạng đuôi của tính từ cách 6 nữa là –ЕМ.
Я ЛЮБЛЮ ПЕСНЮ О СИНЕМПЛАТОЧКЕ. ОН ПИШЕТ СТИХИ О СИНЕМ МОРЕ. Tôi yêu bài ca về chiếc khăn nhỏ màu xanh. Anh ấy viết thơ về biển xanh.
ПЛАТОЧЕК – là danh từ giống đực, МОРЕ – danh từ giống trung.
Trong câu cách 6 phần đuôi của tính từ giống cái số ít là –ОЙ hoặc –ЕЙ.
ИВАН МЕЧТАЕТ О НОВОЙ ДОРОГОЙСПОРТИВНОЙ МАШИНЕ. Ivan mơ ước về chiếc xe ô tô thể thao mới đắt tiền.
Đề nghị các bạn tập luyện dùng câu với danh từ và tính từ ở cách 6.
Bạn hãy kể lại xem báo và tạp chí Nga viết về điều gì và tự đặt các mệnh đề biểu đạt trong cách 6. Thí dụ:
ИНТЕРЕСНАЯ ПРЕМЬЕРА В БОЛЬШОМ ТЕАТРЕ. – ГАЗЕТЫ ПИШУТ ОБ ИНТЕРЕСНОЙ ПРЕМЬЕРЕ В БОЛЬШОМ ТЕАТРЕ. Vở công diễn thú vị trong Nhà hát Lớn. – Các báo viết về vở công diễn thú vị trong Nhà hát Lớn.
УДИВИТЕЛЬНЫЕ ПУТЕШЕСТВИЯ НА РУССКИЙ СЕВЕР. НОВЫЙ ДЕТЕКТИВ БОРИСА АКУНИНА. БУДУЩАЯ ЗВЕЗДА НАУКИ – СТУДЕНТКА МГУ НАСТЯ ИВАНОВА. Chuyến du ngoạn kỳ thú lên miền Bắc Nga. Cuốn truyện trinh thám mới của Boris Akunin. Ngôi sao tương lai của nền khoa học – nữ sinh viên MGU Nastya Ivanova.
Chuyên mục học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ giúp các bạn ôn luyện nắm vững hơn về đề tài này. Mời các bạn tham khảo theo địa chỉ www.vietnamese.ruvr.ru
Chúc các bạn thu được kết quả tốt đẹp và xin hẹn tới cuộc gặp mới trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 57

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghiên cứu sự biến đổi của danh từ, tính từ đi kèm và từ chỉ số thứ tự trong cách 6 (giới cách). Bài trước chúng ta đã nói về mệnh đề cách 6 với giới từ О. Chắc các bạn đã nhớ là giới từ này thường đi sau các động từ ДУМАТЬ – nghĩ, ГОВОРИТЬ – nói, РАССКАЗЫВАТЬ – kể chuyện, ПИСАТЬ – viết, ПОМНИТЬ – nhớ, ВСПОМИНАТЬ – nhớ lại, hồi tưởng.
Я ЧАСТО ДУМАЮ О МОЕМ СТАРОМ ДРУГЕ. Tôi hay nghĩ về người bạn cũ của tôi.
ГАЗЕТЫ МНОГО ПИШУТ ОБ ИЗВЕСТНЫХ ПОЛИТИКАХ И АРТИСТАХ. Các báo viết nhiều về những chính trị gia và nghệ sĩ nổi tiếng.
Còn bây giờ chúng ta sẽ nói về yêu cầu dùng cách 6 với giới từ В và НА để biểu thị vị trí, địa điểm của hành động.
Chị Tania, chị sống ở ngôi nhà nào?
Я ЖИВУ В НОВОМ ВЫСОТНОМДОМЕ. Tôi sống ở ngôi nhà mới cao tầng.
Thế còn khi nghỉ ngơi ở Sochi thì chị sống ở đâu?
Я ЖИЛА В СОВРЕМЕННОЙ КРАСИВОЙГОСТИНИЦЕ «МОРСКАЯ ЗВЕЗДА». Tôi đã sống trong khách sạn “Sao biển” hiện đại đẹp đẽ.
Chị thích nghỉ ngơi như thế nào?
Я ЛЮБЛЮ КУПАТЬСЯ В ТЕПЛОМЧИСТОМ МОРЕ. Tôi thích tắm ở biển trong sạch ấm áp.
Cũng như khi đi với giới từ О, danh từ giống đực và giống trung trong câu cách 6 với giới từ В có đuôi là –Е hoặc –И.
В ЭТОМ СТАРИННОМ ЗДАНИИНАХОДИТСЯ КРУПНЫЙ БАНК. Trong tòa nhà cổ kính này có ngân hàng lớn.
Còn tính từ giống đực và giống trung trong câu cách 6 kết thúc bằng –ОМ hoặc –ЕМ.
НОВОМ, СИНЕМ.
Tính từ giống cái có vĩ tố là -ОЙ hoặc -ЕЙ.
КРАСИВОЙ, ЛЕТНЕЙ.
Với các danh từ trong cách 6 có giới từ В thường sử dụng từ chỉ số thứ tự.
Chị Tania, chị sống trong căn hộ nào? (số mấy?)
Я ЖИВУ В СОРОК СЕДЬМОЙКВАРТИРЕ. Tôi sống trong căn hộ số 47.
МОЙ ПЛЕМЯННИК УЧИТСЯ В ПЯТОМКЛАССЕ. Cháu tôi đang học lớp 5.
Xin các bạn nhớ rằng đuôi của từ chỉ số thứ tự trùng hợp với đuôi của tính từ theo giống và số cần thiết.
Từ chỉ số thứ tự cũng thường được dùng cùng với danh từ trong câu cách 6 có giới từ НА.
Chị Tania, chị sống ở tầng mấy (thứ bao nhiêu?)?
Я ЖИВУ НА ДВАДЦАТЬ ПЕРВОМ ЭТАЖЕ. Tôi sống ở tầng thứ 21.
Mời các bạn nghe mấy câu hội thoại sử dụng danh từ, tính từ và từ chỉ số thứ tự trong cách 6 với giới từ В và НА.
АНТОН, В КАКОЙ АУДИТОРИИ У НАС БУДЕТ ЛЕКЦИЯ ПО ИСТОРИИ? – В ПЯТОЙ АУДИТОРИИ НА ТРЕТЬЕМ ЭТАЖЕ. Anton, ở giảng đường nào sẽ có bài giảng Lịch sử? – Trong giảng đường số 5 trên tầng 3.
СКАЖИТЕ, ПОЖАЛУЙСТА, В КАКОМ КАБИНЕТЕ ПРИНИМАЕТ ХИРУРГ? – В ДВАДЦАТЬ ПЕРВОМ КАБИНЕТЕ НА ВТОРОМ ЭТАЖЕ. Làm ơn nói cho tôi (biết), bác sĩ phẫu thuật tiếp (bệnh nhân) ở phòng nào? – Phòng số 21 trên tầng 2.
ИВАН, ТЫ ХОЧЕШЬ ПОРАБОТАТЬ В КАНИКУЛЫ? – ОЧЕНЬ ХОЧУ. А ЧТО ТЫ МОЖЕШЬ МНЕ ПРЕДЛОЖИТЬ? – МОГУ ПРЕДЛОЖИТЬ ПОРАБОТАТЬ ОФИЦИАНТОМ В МОЛОДЕЖНОМ КАФЕ ИЛИ КУРЬЕРОМ В РЕКЛАМНОМ АГЕНТСТВЕ. Ivan, cậu muốn làm thêm trong kỳ nghỉ hè không? – Rất muốn. Thế cậu có thể giới thiệu cho tớ việc gì? – Tớ có thể mời làm phục vụ bàn (tiếp viên) trong quán cà phê thanh niên hoặc làm giao liên trong hãng quảng cáo.
Я СОБИРАЮСЬ ПОЕХАТЬ НА ВЫХОДНЫЕ В САНКТ-ПЕТЕРБУРГ. ГДЕ Я МОГУ КУПИТЬ БИЛЕТ? – НА ЛЕНИНГРАДСКОМ ВОКЗАЛЕ. Tôi sửa soạn đi Saint-Peterburg vào những ngày nghỉ. Tôi có thể mua vé ở đâu? – Ở ga Leningradsky.
ГДЕ В ЭТОМ РАЙОНЕ МОЖНО ВКУСНО И НЕДОРОГО ПООБЕДАТЬ? – В РЕСТОРАНЕ «ГРАБЛИ» НА ПЯТНИЦКОЙ УЛИЦЕ. Trong khu vực này chỗ nào có thể ăn bữa trưa ngon mà không đắt? – Tại nhà hàng “Grabli” trên phố Pyatnitskaya.
Khi tập luyện sử dụng mệnh đề cách 6 với danh từ, tính từ, từ chỉ số thứ tự, có các giới từ phù hợp, các bạn có thể tham khảo chuyên mục “Chúng ta học tiếng Nga” trên trang điện tử của Đài “Tiếng nói nước Nga” theo địa chỉ www.vietnamese.ruvr.ru.
Xin chúc đạt kết quả tốt và hẹn tới cuộc gặp mới.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 58

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta kết thúc phần nghiên cứu dạng thức cách 6 của danh từ và tính từ cùng từ chỉ số thứ tự đi kèm. Trong bài trước chúng ta đã nói về cách sử dụng mệnh đề cách 6 với giới từ В và НА để biểu thị vị trí, địa điểm. Ta ôn lại một chút nhé, mời các bạn nghe cuộc hội thoại như sau.
ЗДРАВСТВУЙ, НИНА! ДАВНО ТЕБЯ НЕ ВИДЕЛА. ГДЕ ТЫ БЫЛА? Nina, chào bạn! Lâu rồi không thấy bạn. Bạn đã ở đâu vậy? – Я ОТДЫХАЛА В СОЧИ. Tôi nghỉ ở Sochi. – КАК ЗДОРОВО! ГДЕ ТЫ ТАМ ЖИЛА? Tuyệt thế! Bạn đã sống ở chỗ nào tại đó? – Я ЖИЛА В НОВОЙ ВЫСОТНОЙ ГОСТИНИЦЕ, В УДОБНОМ НОМЕРЕ НА 12-ОМ ЭТАЖЕ. Tôi đã sống ở khách sạn mới cao tầng, trong một căn phòng tiện lợi ở tầng 12. – А ГДЕ ЕЛА? Thế bạn ăn uống ở đâu? – В МАЛЕНЬКОМ УЮТНОМ КАФЕ НА БЕРЕГУ МОРЯ.Trong nhà hàng nhỏ ấm cúng bên bờ biển. – ПОГОДА БЫЛА ХОРОШАЯ? Thời tiết đẹp chứ? – ДА, БЫЛО ЖАРКО И НЕ БЫЛО ДОЖДЕЙ. Я КУПАЛАСЬ В МОРЕ ДВА РАЗА В ДЕНЬ. МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛСЯ МОЙ ОТПУСК – Vâng, nóng và không có mưa. Tôi đã tắm dưới biển hai lần trong ngày. Tôi rất thích kỳ nghỉ của tôi.
Trong bài học hôm nay chúng ta xem xét dùng câu cách 6 để biểu đạt thời gian. Để làm như vậy, cũng sử dụng giới từ В và НА. Giới từ В được dùng khi ta nói về năm và tháng.
В1961 ГОДУ ЧЕЛОВЕК ВПЕРВЫЕ ПОЛЕТЕЛ В КОСМОС. Vào năm 1961 lần đầu tiên con người đã bay lên vũ trụ.
Chị Tania, bao giờ thì sinh nhật chị?
ЗИМОЙ, ВДЕКАБРЕ. Mùa đông, vào tháng 12.
ВПРОШЛОМ ГОДУ Я ЕЗДИЛА ЛЕТОМ В ИТАЛИЮ, ВЭТОМ ГОДУ ПОЕДУ В ПОЛЬШУ, А ВБУДУЩЕМ ГОДУ ХОЧУ ПОЛЕТЕТЬ ВО ВЬЕТНАМ. Trong năm ngoái, mùa hè tôi đi Italy, vào năm nay tôi sẽ đi Balan, còn đến sang năm tôi muốn bay đi Việt Nam.
В ЭТОМ МЕСЯЦЕ В МОСКВЕ БЫЛО МНОГО ДОЖДЕЙ, А В СЛЕДУЮЩЕМ ПРОГНОЗ ОБЕЩАЕТ СУХУЮ ПОГОДУ. Vào tháng này ở Matxcơva có mưa nhiều, còn vào tháng tới dự báo thời tiết khô ráo.
Nếu nói về tuần lễ, thì ta cần dùng giới từ НА.
НА ЭТОЙ НЕДЕЛЕ МЫ ОТМЕЧАЕМ ЮБИЛЕЙ МОЕЙ ПОДРУГИ, А НА ПРОШЛОЙ ОТМЕЧАЛИ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ ЕЕ ДОЧЕРИ. Trong tuần này chúng tôi sẽ kỷ niệm mốc (sinh nhật) chẵn của bạn gái tôi, còn trong tuần trước đã kỷ niệm ngày sinh của con gái chị ấy.
Câu cách 6 với ý nghĩa thời gian thường dùng trong tiểu sử. Thí dụ:
МИХАИЛ ЛОМОНОСОВ – ВЕЛИКИЙ РУССКИЙ УЧЕНЫЙ, ПОЭТ, ИСТОРИК, ХУДОЖНИК, ПЕРВЫЙ РУССКИЙ АКАДЕМИК. Mikhail Lomonosov là bác học Nga vĩ đại, nhà thơ, sử gia, họa sĩ, viện sĩ Nga đầu tiên. ОН НАЧАЛ УЧИТЬСЯ В 1731 ГОДУ, КОГДА ЕМУ БЫЛО 19 ЛЕТ. Ông bắt đầu học tập vào năm 1731, khi ông 19 tuổi. В 1735 ГОДУ ОН УЖЕ ЗАКОНЧИЛ ШКОЛУ И НАЧАЛ УЧИТЬСЯ В ПЕТЕРБУРГСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. Vào năm 1735 ông đã tốt nghiệp phổ thông và bắt đầu học ở trường Đại học Tổng hợp Peterburg. В 1755 ГОДУ ЛОМОНОСОВ ОСНОВАЛ МОСКОВСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ. Vào năm 1755 Lomonosov đã thành lập trường Đại học Tổng hợp Matxcơva.
Bây giờ chúng ta thử viết tiểu sử nhé.
ЗУНГ, В КАКОМ ГОДУ И МЕСЯЦЕ ТЫ РОДИЛСЯ? Dũng, cậu sinh vào tháng nào và năm nào? – РОДИЛСЯ В 1991 ГОДУ, В ИЮНЕ. Tớ sinh vào năm 1991, trong tháng Sáu. – КОГДА ТЫ ПОШЕЛ В ШКОЛУ? Khi nào cậu đến trường phổ thông (bắt đầu đi học) ? – В 1998 ГОДУ. Vào năm 1998. – КОГДА ТЫ НАЧАЛ ИЗУЧАТЬ РУССКИЙ ЯЗЫК? Khi nào cậu bắt đầu học tiếng Nga? – В 2010 ГОДУ, КОГДА ПОСТУПИЛ В ХАНОЙСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ. Vào năm 2010, khi đã nhập học ở Đại học Tổng hợp Hà Nội. – А КОГДА ТЫ ПРИЕХАЛ В РОССИЮ? Thế khi nào cậu đến nước Nga? – В СЛЕДУЮЩЕМ ГОДУ. Trong năm tiếp theo. – КОГДА ТЫ ОКОНЧИШЬ МОСКОВСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ? Khi nào cậu sẽ tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Matxcơva? – В 2016 ГОДУ. Vào năm 2016. – КЕМ БУДЕШЬ, КОГДА ВЕРНЕШЬСЯ НА РОДИНУ? Cậu sẽ làm gì khi trở về quê hương? – ХОЧУ БЫТЬ ПРЕПОДАВАТЕЛЕМ РУССКОГО ЯЗЫКА. Tớ muốn làm giảng viên Tiếng Nga.
Các bạn hãy thử viết tiểu sử cá nhân của mình và tiểu sử của bạn bè hoặc người thân. Các bạn sẽ được hỗ trợ nhờ tham khảo chuyên mục “Chúng ta học tiếng Nga” trên trang điện tử tiếng Việt của Đài “Tiếng nói nước Nga” theo địa chỉ www.vietnamese.ruvr.ru.
Còn bây giờ, xin chào tạm biệt và hẹn những cuộc gặp mới trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 59

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Chúng ta tiếp tục làm quen chi tiết hơn với các cách của tiếng Nga. Hôm nay ta sẽ nói về cách 4 (đối cách) của danh từ, tính từ và đại từ.
НЕДАВНО У МОЕЙ ПОДРУГИ НИНЫ БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. НА ЭТОМ ВЕЧЕРЕ Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ И ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Cách đây chưa lâu (Mới đây) bạn gái Nina của tôi đã có (lễ) sinh nhật. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp. Trong buổi vui liên hoan này tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen và uống rượu vang trắng.
Trong thí dụ bằng câu chuyện nhỏ này, có thể thấy danh từ và các tính từ kèm theo biến đổi ra sao trong cách 4.
Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp
ШАРФ – là danh từ bất động vật giống đực. Trong cách 4 những danh từ này và tính từ đi kèm với nó có dạng giống như ở nguyên cách-cách 1.
Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. Tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình
ДРУГ – là danh từ động vật giống đực. Trong cách 4 những danh từ này có vĩ tố là –А hoặc -Я, còn các tính từ và đại từ đi kèm có đuôi là ОГО hoặc –ЕГО.
МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen
ИКРА – là danh từ giống cái. Trong cách 4 những danh từ này chủ yếu có đuôi là –У hoặc -Ю, còn các tính từ kèm theo sẽ có kết thúc bằng –УЮ hoặc –ЮЮ.
МЫ ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Chúng tôi đã uống rượu vang trắng.
ВИНО – là danh từ giống trung. Trong cách 4 những danh từ này và tính từ đi kèm có dạng giống như ở nguyên cách-cách 1.
Ngoài những động từ trong mẩu chuyện kể ngắn trên đây, danh từ trong cách 4 còn thường được dùng với những động từ thông dụng như ЛЮБИТЬ – yêu quí, УВАЖАТЬ – tôn trọng, ПОЗДРАВЛЯТЬ – chúc mừng, БЛАГОДАРИТЬ – cảm tạ, СМОТРЕТЬ – xem, ВИДЕТЬ – nhìn, thấy, ФОТОГРАФИРОВАТЬ – chụp ảnh, РИСОВАТЬ – vẽ, ЧИТАТЬ – đọc, ИЗУЧАТЬ – nghiên cứu, học, ПОКУПАТЬ – mua, ВСПОМИНАТЬ – nhớ lại, hồi tưởng.
Mời các bạn nghe thêm mấy thí dụ với các động từ khác.
ЗНАМЕНИТЫЙ РОССИЙСКИЙ РЕЖИССЕР НИКИТА МИХАЛКОВ ПОКАЗАЛ НА КАННСКОМ КИНОФЕСТИВАЛЕ СВОЙ НОВЫЙ ФИЛЬМ. Đạo diễn điện ảnh Nga nổi tiếng Nikita Mikhalkov đã chiếu bộ phim mới của mình tại Liên hoan phim Cannes
ТРЕНЕР ПОЗДРАВИЛ СВОЕГО ЛЮБИМОГО СПОРТСМЕНА С ПОБЕДОЙ. Huấn luyện viên chúc mừng vận động viên thể thao yêu mến của mình nhân dịp thắng lợi.
ИЗ НАШЕГО ОКНА В СТУДИИ МЫ ВИДИМ КРЕМЛЬ И КРАСНУЮ ПЛОЩАДЬ. Từ cửa sổ studio của mình chúng tôi nhìn thấy Kremlin và Quảng trường Đỏ.
Xin các bạn lưu ý, trong mệnh đề trên cả hai danh từ trong cách 4 đều có dạng như cách 1, tức là không biến đổi. КРЕМЛЬ – là danh từ bất động vật giống đực, còn ПЛОЩАДЬ – là danh từ bất động vật giống cái, kết thúc bằng dấu mềm. Những danh từ như vậy vẫn giữ nguyên không thay đổi trong cách 4. Thí dụ như:
ДОЧЬ – (người) con gái, МАТЬ – người mẹ, НОЧЬ – đêm, БОЛЬ – đau, ЖИЗНЬ – cuộc sống, cuộc đời, КРОВЬ – máu, СКАТЕРТЬ – khăn trải bàn, СОЛЬ – muối, ДАЛЬ – (nơi) xa xôi.
Cách 4 thường được dùng đến trong các thông báo. Chẳng hạn những thông báo (rao vặt) như sau:
МЕДИЦИНСКИЙ ЦЕНТР ПРИГЛАШАЕТ НА РАБОТУ ОПЫТНОГО ВРАЧА-ХИРУРГА И МЕДСЕСТРУ. Trung tâm y tế mời (tuyển) (một) bác sĩ-phẫu thuật có kinh nghiệm và (một) y tá đến làm việc.
ОТДАМ УМНУЮ ДОБРУЮ СОБАКУ В ХОРОШИЕ РУКИ. Tôi sẽ trao con cún khôn cho chủ nhân mát tay.
ИЩУ СПУТНИКА В АРХЕОЛОГИЧЕСКУЮ ЭКСПЕДИЦИЮ В КРЫМ. Tôi tìm bạn đồng hành đi điền dã khảo cổ ở Krym.
Các bạn hãy tập luyện lập những câu thông báo tương tự có sử dụng danh từ cách 4 các giống.
Một trợ giúp nhỏ dành cho các bạn trong việc ôn luyện này là những bài học của chúng ta, đăng tải trên trang điện tử theo địa chỉ www.vietnamese.ruvr.ru.
Tin rằng các bạn sẽ tiến tới nhanh chóng trên hành trình khám phá tiếng Nga. Bây giờ xin tạm biệt và hẹn đến cuộc gặp mới trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 60

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Chúng ta tiếp tục làm quen chi tiết hơn với các danh từ, tính từ và đại từ trong đối cách – cách 4 – của tiếng Nga. Chắc các bạn còn nhớ trong bài trước chúng ta đã nói về phương thức sử dụng cách 4 để biểu thị đối tượng của hành động. Bây giờ ta ôn laii một chút nhé
НЕДАВНО У МОЕЙ ПОДРУГИ НИНЫ БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. НА ЭТОМ ВЕЧЕРЕ Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ И ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Cách đây chưa lâu (Mới đây) bạn gái Nina của tôi đã có (lễ) sinh nhật. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp. Trong buổi vui liên hoan này tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen và uống rượu vang trắng.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về phương thức sử dụng cách 4 để so sánh. Đồng thời ta học cách mô tả ngoại hình và tính cách của một người. Chi Tania, chị giống ai?
Я ПОХОЖА НА МАМУ. У НЕЕ ТОЖЕ СВЕТЛЫЕ ВООСЫ И ГОЛУБЫЕ ГЛАЗА. Tôi giống mẹ. Mẹ cũng có tóc màu sáng và mắt xanh.
Thế còn em trai chị thì giống ai?
А МОЙ БРАТ ПОХОЖ НА ОТЦА. У НЕГО ВЫСОКИЙ ЛОБ, ПРЯМОЙ НОС, ТЕМНЫЕ ВОЛОСЫ И КАРИЕ ГЛАЗА. МЫ НЕ ПОХОЖИ ДРУГ НА ДРУГА. Còn em trai tôi thì giống bố. Bố có trán cao, mũi thẳng, tóc màu sẫm và mắt nâu. Chúng tôi (Tôi và em trai) không giống nhau.
Các danh từ НА МАМУ, НА ОТЦА đứng ở cách 4. Xin các bạn lưu ý cách biểu thị ДРУГ НА ДРУГА, cần sử dụng để chỉ hành động tương hỗ của hai người.
Mời các bạn nghe đoạn hội thoại sau:
ЗУНГ, КАК ЗОВУТ ТВОЕГО ЛУЧШЕГО ДРУГА? – Dũng ơi, bạn thân của cậu tên là gì?
ЕГО ЗОВУТ АНТОН. Cậu ấy tên là Anton.
КАК ОН ВЫГЛЯДИТ? Trông cậu ấy thế nào?
ОН ВЫСОКИЙ, ШИРОКОПЛЕЧИЙ, У НЕГО СПОРТИВНАЯ ФИГУРА, ОТКРЫТОЕ СИМПАТИЧНОЕ ЛИЦО, КУРНОСЫЙ НОС, КУДРЯВЫЕ РЫЖИЕ ВОЛОСЫ И ВЕСЕЛЫЕ ЗЕЛЕНЫЕ ГЛАЗА. Cậu ấy cao, vai rộng, thân hình thể thao, khuôn mặt cởi mở dễ mến, mũi hếch, tóc xoăn màu hung và mắt xanh vui tươi.
А КАКОЙ У НЕГО ХАРАКТЕР? Thế tính cậu ấy thế nào?
У НЕГО ХОРОШИЙ, ЛЕГКИЙ ХАРАКТЕР, ОН ЛЮБИТ ШУТИТЬ. А ЕЩЕ АНТОН ОЧЕНЬ НАДЕЖНЫЙ ЧЕЛОВЕК. НА НЕГО ВСЕГДА МОЖНО ПОЛОЖИТЬСЯ. Cậu ấy tính tình tốt, nhẹ nhàng, cậu ấy thích đùa. Anton còn là người rất chắc chắn đáng tin. Luôn luôn có thể trông cậy vào cậu ấy.
МОЖНО СКАЗАТЬ, ТЕБЕ ПОВЕЗЛО! ГДЕ ВЫ ПОЗНАКОМИЛИСЬ С АНТОНОМ? Có thể nói là cậu may mắn đấy! Cậu làm quen với Anton ở đâu?
В СЕКЦИИ НАСТОЛЬНОГО ТЕННИСА В УНИВЕРСИТЕТЕ. ТЕПЕРЬ МЫ ИГРАЕМ В ОДНОЙ РОК-ГРУППЕ. НАМ НРАВЯТСЯ ОДНИ И ТЕ ЖЕ ФИЛЬМЫ И КНИГИ. МЫ С АНТОНОМ ЛЮБИМ ПРОВОДИТЬ СВОБОДНОЕ ВРЕМЯ ВМЕСТЕ. Trong nhóm bóng bàn ở trường đại học. Bây giờ bọn tớ cùng chơi trong ban nhạc rock. Chúng tớ thích cùng loại phim và sách (như nhau). Tớ và Anton ưa dùng thời gian rảnh (giải trí) cùng nhau.
Các bạn hãy thử lập đoạn chuyện kể ngắn về bạn bè và người thân của mình. Xin gợi ý môt số từ sẽ giúp các bạn:
ЛИЦО: КРАСИВОЕ, НЕКРАСИВОЕ, СИМПАТИЧНОЕ, ПРИЯТНОЕ, ОТКРЫТОЕ, КРУГЛОЕ, ОВАЛЬНОЕ – Khuôn mặt: Đẹp, không đẹp, dễ thương-dễ ưa, dễ mến-dễ chịu, cởi mở, tròn, trái xoan.
ВОЛОСЫ: ДЛИННЫЕ, КОРОТКИЕ, КУДРЯВЫЕ, СВЕТЛЫЕ, ТЕМНЫЕ, ЧЕРНЫЕ, РЫЖИЕ, СЕДЫЕ – Tóc: Dài, ngắn, xoăn, (màu) sáng, (màu) sẫm, (màu) đen, (màu) hung, bạc.
ГЛАЗА: СЕРЫЕ, СИНИЕ, ГОЛУБЫЕ, КАРИЕ, ЧЕРНЫЕ, ЗЕЛЕНЫЕ, ВЕСЕЛЫЕ, ЖИВЫЕ, ЗЛЫЕ – Mắt: Xám, xanh thẫm, xanh nhạt, nâu, đen, xanh biếc, vui tươi, sinh động, ác độc.
НОС: ДЛИННЫЙ, КОРОТКИЙ, ПРЯМОЙ, КУРНОСЫЙ, БОЛЬШОЙ, МАЛЕНЬКИЙ – Mũi: Dài, ngắn, thẳng, hếch, to, bé.
ЧЕЛОВЕК: ВЫСОКИЙ, МАЛЕНЬКИЙ, ПОЛНЫЙ, ХУДОЙ, СТРОЙНЫЙ – Người: Cao, bé nhỏ, đẫy đà, gầy gò, cân đối.
ХАРАКТЕР: СИЛЬНЫЙ, СЛАБЫЙ, ЛЕГКИЙ, ТРУДНЫЙ, ВЕСЕЛЫЙ, СПОКОЙНЫЙ – Tính tình: Mạnh mẽ, yếu đuối, nhẹ nhàng, khó khăn, vui vẻ, ôn hòa-điềm tĩnh.
Để ôn luyện tốt hơn, các bạn có thể tham khảo chuyên mục Chúng ta học tiếng Nga trên trang điện tử của Đài “Tiếng nói nước Nga” theo địa chỉ www.vietnamese.ruvr.ru.
Xin chúc thành công và hẹn gặp lại trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.
ДО СВИДАНЬЯ!
Chia sẻ bài viết này
Vui lòng để lại đánh giá cho bài viết:
0 0